Giảm áp lực chi phí, giữ nguồn lực cho sản xuất
Quốc hội đã thông qua chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với doanh nghiệp, tổ chức có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. Chính sách có hiệu lực từ ngày 24/8/2026 và được áp dụng cho cả kỳ tính thuế năm 2026. Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều áp lực về chi phí, đơn hàng và thị trường, chính sách được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực để duy trì hoạt động, đầu tư và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, mức độ tác động sẽ khác nhau giữa các nhóm doanh nghiệp, tùy thuộc quy mô và lĩnh vực hoạt động.
Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội thăm quan Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT trong quá trình làm việc tại nhà máy ở xã Đan Phượng, TP. Hà Nội.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đinh Văn Hưng, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Savic, cho biết hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong 7 tháng đầu năm cơ bản bám sát kế hoạch. Đáng chú ý, đơn hàng từ nay đến cuối năm dự kiến tăng khoảng 1,5 lần so với 7 tháng đầu năm.
Theo ông Hưng, nguồn nguyên liệu và linh phụ kiện phục vụ sản xuất, lắp đặt các hệ thống môi trường hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu. Nhiều vật tư được cung cấp thông qua các doanh nghiệp trong nước đã nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị từ nước ngoài. Trong bối cảnh đơn hàng có tín hiệu tích cực, việc giảm chi phí sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp chủ động nguồn lực cho sản xuất."Chính sách giảm thuế 30% là một hỗ trợ tích cực đối với doanh nghiệp thuộc diện được hưởng",ông Hưng đánh giá.
Theo ông, khoản chi phí được tiết giảm có thể được doanh nghiệp dành cho những nhu cầu thiết yếu như tiền lương, tuyển dụng lao động, điện, nhà xưởng và các hoạt động phục vụ sản xuất. Dù mức hỗ trợ không quá lớn, đây vẫn là nguồn lực đáng kể đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn cần tạo thêm dư địa để phục hồi và phát triển.“Giảm được chi phí sẽ giúp doanh nghiệp nhẹ gánh hơn, từ đó có thêm điều kiện đầu tư, kinh doanh và mở rộng thị trường”,ông Hưng cho biết.
Trong khi đó, ở góc độ doanh nghiệp dệt may, ông Trần Như Tùng, Chủ tịch HĐQT Công ty Dệt may, đầu tư và thương mại Thành Công, cho biết từ đầu năm đến nay, đơn hàng của doanh nghiệp nhìn chung đi ngang, không giảm mạnh nhưng giá đơn hàng ở mức thấp, gây áp lực lên biên lợi nhuận. Doanh nghiệp kỳ vọng thị trường 5 tháng cuối năm sẽ khả quan hơn, song diễn biến vẫn khó lường do chính sách và thị trường quốc tế liên tục thay đổi.
Đối với chính sách giảm 30% thuế, ông Tùng cho rằng tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp dệt may quy mô lớn là không đáng kể, bởi nhóm doanh nghiệp này không thuộc đối tượng có doanh thu trong ngưỡng được hưởng chính sách."Chính sách chủ yếu hỗ trợ các hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, giúp những cơ sở này giảm bớt áp lực chi phí và duy trì hoạt động trong bối cảnh thị trường còn nhiều khó khăn", ông Tùng chia sẻ.
Đối với các doanh nghiệp dệt may lớn hơn, thách thức hiện nay nằm nhiều ở khả năng cạnh tranh về giá, thuế và phân khúc sản phẩm trên thị trường quốc tế. Do đó, doanh nghiệp phải chuyển hướng sang những đơn hàng có độ phức tạp và yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Chính sách thuế cần cộng hưởng với hỗ trợ công nghệ, thị trường
Đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tác động của chính sách giảm thuế được nhìn nhận không chỉ ở việc giảm chi phí mà còn ở khả năng tạo thêm nguồn lực cho đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội, cho rằng đây là chính sách đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Bởi đặc thù của ngành là doanh thu có thể chưa lớn nhưng nhu cầu vốn đầu tư cao. Để sản xuất một linh kiện, phụ tùng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp phải đầu tư máy móc, khuôn mẫu, thiết bị đo kiểm, hệ thống quản lý chất lượng và nhân lực kỹ thuật.
Nhiều khoản đầu tư phải thực hiện trước khi doanh nghiệp có được đơn hàng ổn định. Trong khi đó, khả năng tích lũy vốn của không ít doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước còn hạn chế. Vì vậy, phần thuế được giảm có thể giúp doanh nghiệp giữ lại thêm nguồn lực cho sản xuất. Nguồn lực này có thể được sử dụng để mua thiết bị, cải tiến công đoạn sản xuất, làm sản phẩm mẫu, hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng hoặc đào tạo lao động kỹ thuật."Việc chính sách được áp dụng cho cả năm 2026 và 2027 cũng tạo thêm thời gian để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư",ông Vân chia sẻ.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Vân, giảm thuế chỉ là một phần trong quá trình nâng cao năng lực doanh nghiệp. Để trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp lớn, nhất là doanh nghiệp FDI và các tập đoàn quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về chất lượng, dây chuyền sản xuất, truy xuất nguồn gốc, tiến độ giao hàng và năng lực cải tiến.“Điều quan trọng cuối cùng không phải chỉ là doanh nghiệp giảm được bao nhiêu chi phí, mà là nguồn lực đó có được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng thị trường hay không”, ông Nguyễn Vân nhấn mạnh và khuyến nghị, chính sách giảm thuế cần được đặt trong tổng thể các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Khi doanh nghiệp có thêm nguồn lực từ chính sách tài khóa, đồng thời được hỗ trợ về công nghệ, quản trị, đào tạo và kết nối thị trường, hiệu quả sẽ lớn hơn.
TP. Hà Nội đang triển khai các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ với mục tiêu gia tăng số lượng doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất và tham gia chuỗi cung ứng. Sự kết hợp giữa chính sách giảm thuế và các chương trình hỗ trợ chuyên ngành sẽ tạo thêm động lực để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.“Nhà nước không thể đầu tư thay doanh nghiệp, nhưng chính sách có thể tạo cú hích để doanh nghiệp mạnh dạn nâng cấp sản xuất. Nếu phần nguồn lực được giữ lại giúp doanh nghiệp đầu tư công nghệ và sau đó trở thành nhà cung cấp cho một tập đoàn lớn thì giá trị tạo ra sẽ vượt ra ngoài khoản thuế được giảm”,ông Vân phân tích.
Từ thực tế doanh nghiệp, ông Nguyễn Vân cho rằng ngoài giảm thuế, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vẫn cần tiếp cận nguồn tín dụng phù hợp để đầu tư máy móc, thiết bị và đổi mới công nghệ. Các chương trình hỗ trợ cũng cần đi vào nhu cầu cụ thể của từng chuỗi sản xuất, giúp doanh nghiệp xác định rõ khoảng cách giữa năng lực hiện tại với yêu cầu của khách hàng.
Hiệu quả của chính sách, theo ông Nguyễn Vân, nên được đo bằng những kết quả cụ thể như số doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn trở thành nhà cung ứng, số linh kiện được sản xuất trong nước thay cho nhập khẩu và mức độ chuyển dịch từ gia công đơn giản sang các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Với cách tiếp cận này, chính sách giảm thuế không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua áp lực chi phí trước mắt mà còn có thể trở thành một phần nguồn lực giúp doanh nghiệp đầu tư cho năng lực sản xuất, qua đó nâng tỷ lệ nội địa hóa, tăng tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền công nghiệp.
Theo số liệu Bộ Tài chính, khoảng 865.115 doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng, chiếm 81,1% tổng số doanh nghiệp. Đây là nhóm có sức chống chịu còn hạn chế, vì vậy chính sách giảm thuế được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp duy trì việc làm, tái đầu tư và từng bước mở rộng quy mô.