Thứ tư, 27/05/2026

Dòng chảy tín dụng “mạch máu” nội lực đưa kinh tế tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số

Duy trì dòng chảy vốn tín dụng dồi dào, hướng mạnh vào khu vực công nghiệp chế biến và nông nghiệp đặc thù của ngành Ngân hàng Khu vực 15 không chỉ là một giải pháp, mà còn là “bệ đỡ” cốt lõi, hiện thực hóa khát vọng thiết lập cột mốc tăng trưởng GRDP hai con số (từ 10% đến 10,71%) mà Đảng bộ và chính quyền hai tỉnh An Giang và Cà Mau đã đặt ra cho năm bản lề 2026.

Dòng chảy tín dụng “mạch máu” nội lực đưa kinh tế tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số

“Nắn” dòng vốn vào các khu vực động lực

Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh khu vực 15, đến cuối tháng 5/2026, tổng dư nợ tín dụng toàn khu vực ước đạt 409.600 tỷ đồng, tăng 3,32% so với cuối năm 2025. Trong đó, tỉnh An Giang đạt 283.900 tỷ đồng, tăng 4,17%; còn tỉnh Cà Mau đạt 125.700 tỷ đồng, tăng 1,46%.

Đáng chú ý, tín dụng đang đi đúng hướng khi tập trung mạnh vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh với quy mô khoảng 336.000 tỷ đồng, chiếm tới 82% tổng dư nợ toàn khu vực. Điều này cho thấy dòng vốn ngân hàng không chảy vào các khu vực đầu cơ mà đang trực tiếp “nuôi dưỡng” các động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế địa phương.

z7867413880746_2309e2db83d09dea3410cb7978d8cb33.jpg
Ảnh minh họa

Một trong những điểm nổi bật của tín dụng ngành Ngân hàng Khu vực 15 là vai trò dẫn dắt của dòng vốn đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn – lĩnh vực đang giữ vai trò “trụ đỡ” kinh tế của cả hai tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau.

Đến cuối tháng 5/2026, dư nợ tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn ước đạt 234.000 tỷ đồng, tăng 4,48% so với cuối năm 2025 và chiếm hơn 57% tổng dư nợ toàn khu vực. Đây tiếp tục là lĩnh vực có quy mô tín dụng lớn nhất.

Tại An Giang, dòng vốn tín dụng đang đồng hành cùng Đề án “1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp”. Chỉ riêng vụ Đông Xuân 2025-2026, toàn tỉnh đã triển khai 159.360ha, đạt 86,7% kế hoạch năm. Nguồn vốn ngân hàng không chỉ hỗ trợ nông dân đầu tư sản xuất, mà còn thúc đẩy chuyển đổi mô hình canh tác xanh, tiết giảm chi phí, nâng cao giá trị xuất khẩu.

Song song đó, ngành thủy sản tiếp tục là “đầu tàu” hấp thụ vốn tại tỉnh Cà Mau. Sản lượng tôm tăng mạnh kéo theo nhu cầu vốn lưu động cho nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu. Trong bối cảnh thị trường thế giới biến động, các tổ chức tín dụng trên địa bàn vẫn duy trì ưu tiên cho vay lĩnh vực thủy sản nhằm bảo đảm chuỗi sản xuất không bị đứt gãy.

Theo số liệu từ NHNN chi nhánh Khu vực 15, tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu toàn khu vực đạt khoảng 12.700 tỷ đồng vào cuối tháng 5/2026, tăng gần 7% so với cuối năm trước.

Điều đáng ghi nhận là ngành Ngân hàng không chỉ mở rộng tín dụng mà còn đồng thời duy trì mặt bằng lãi suất ổn định để hỗ trợ doanh nghiệp. Tại tỉnh An Giang, lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 6,1-10%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; tại tỉnh Cà Mau dao động từ 7,6-10%/năm.

Trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp, chi phí logistics và nhiên liệu liên tục tăng, việc duy trì mặt bằng lãi suất ổn định đã góp phần giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp và người dân.

Nếu như nông nghiệp là “trụ đỡ”, thì công nghiệp chế biến và thương mại – dịch vụ đang là động lực tăng tốc tăng trưởng của ngành Ngân hàng Khu vực 15.

Dư nợ tín dụng đối với khu vực công nghiệp và xây dựng đến cuối tháng 5/2026 ước đạt 56.500 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cuối năm 2025 – mức tăng cao nhất trong ba khu vực kinh tế.

Tại tỉnh An Giang, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm tăng 13,13%; nhiều ngành chủ lực như: chế biến thủy sản, xi măng, clinker, may mặc, giày da duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực. Điều này kéo theo nhu cầu vốn lưu động và vốn đầu tư mở rộng sản xuất tăng mạnh.

Trong khi đó, tại tỉnh Cà Mau, ngành chế biến tôm xuất khẩu tiếp tục là “điểm hút vốn” lớn của hệ thống ngân hàng. Sản lượng tôm chế biến tăng gần 15% đã thúc đẩy nhu cầu tín dụng cho nhập nguyên liệu, kho lạnh và logistics.

Dòng vốn cũng đang chảy mạnh vào lĩnh vực thương mại – dịch vụ, đặc biệt tại An Giang – nơi tiêu dùng nội địa và du lịch phục hồi nhanh. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của An Giang tăng tới 25,72%; doanh thu du lịch đạt gần 27.900 tỷ đồng, tăng 46,4%. Đây chính là cơ sở giúp tín dụng thương mại – dịch vụ tại An Giang tăng trưởng 2,41%, đạt hơn 187.000 tỷ đồng.

Ngược lại, tại Cà Mau, tín dụng thương mại – dịch vụ giảm 1,77%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ áp lực chi phí logistics và giá nhiên liệu tăng cao khiến doanh nghiệp thu hẹp quy mô vay vốn để giảm gánh nặng tài chính.

Điều này cho thấy bức tranh tín dụng hiện nay không còn là câu chuyện “bơm vốn bằng mọi giá”, mà phản ánh sát sức hấp thụ thực tế của từng khu vực kinh tế.

Một tín hiệu tích cực khác là chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát. NHNN chi nhánh Khu vực 15 đã tăng cường giám sát các tổ chức tín dụng, yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là bất động sản và các khoản vay ngoài địa bàn.

Đáng chú ý, dư nợ bất động sản toàn khu vực chỉ chiếm khoảng 9,9% tổng dư nợ. Trong đó, tín dụng phục vụ nhu cầu ở thực vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn tín dụng đầu tư – kinh doanh. Đây là tín hiệu cho thấy dòng vốn đang được định hướng khá hợp lý, hạn chế tình trạng “lệch pha” sang đầu cơ tài sản.

Bên cạnh đó, hàng loạt chương trình tín dụng trọng điểm tiếp tục được đẩy mạnh như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội; chương trình tín dụng lúa gạo chất lượng cao phát thải thấp vùng ĐBSCL; tín dụng thủy sản; tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Riêng chương trình tín dụng phục vụ lĩnh vực nông – lâm – thủy sản quy mô 185.000 tỷ đồng đã giải ngân gần 37.900 tỷ đồng tại Khu vực 15, với hơn 10.100 lượt khách hàng vay vốn. Điều này cho thấy vai trò “đồng hành cùng nền kinh tế” của hệ thống ngân hàng ngày càng rõ nét hơn trong giai đoạn phục hồi và tăng tốc tăng trưởng.

Áp lực phía trước vẫn rất lớn

Dù tín dụng tăng trưởng tích cực, song sức ép với kinh tế địa phương vẫn hiện hữu. Tại tỉnh An Giang, khó khăn lớn nằm ở tiến độ giải ngân đầu tư công còn thấp, thị trường tiêu thụ một số mặt hàng nông sản biến động mạnh, giá vật tư đầu vào tăng cao. Trong khi đó, tỉnh Cà Mau tiếp tục chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, dịch bệnh trên tôm – cua và chi phí logistics tăng mạnh do bất ổn địa chính trị thế giới. Đây cũng là nguyên nhân khiến khả năng hấp thụ vốn tại một số lĩnh vực chưa thật sự đồng đều.

Theo các chuyên gia, nếu không tháo gỡ nhanh các “điểm nghẽn” về hạ tầng logistics, giải ngân đầu tư công và cải cách thủ tục hành chính, mục tiêu tăng trưởng hai con số của hai tỉnh sẽ đối mặt nhiều thách thức.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, vai trò dẫn vốn của hệ thống ngân hàng càng trở nên quan trọng. Việc duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, cơ cấu lại nợ hợp lý, đẩy mạnh tín dụng ưu tiên và tăng cường kết nối ngân hàng – doanh nghiệp sẽ tiếp tục là “đòn bẩy” để doanh nghiệp duy trì sức chống chịu và mở rộng sản xuất.

ThS. Trần Văn Phước, Quyền Giám đốc NHNN chi nhánh khu vực 15 chia sẻ, để dòng vốn tín dụng phát huy hiệu quả mạnh hơn trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau, cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng tốc giải ngân đầu tư công và hạ tầng logistics, đây là “vốn mồi” quan trọng giúp kéo theo tín dụng ngân hàng và kích thích đầu tư tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông kết nối vùng, logistics thủy sản và hạ tầng phục vụ xuất khẩu.

Thứ hai, mở rộng tín dụng xanh và tín dụng chuỗi liên kết, với lợi thế nông nghiệp và thủy sản, An Giang và Cà Mau cần thúc đẩy mạnh mô hình cho vay theo chuỗi giá trị, tín dụng carbon, nông nghiệp phát thải thấp và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao.

Thứ ba, giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngân hàng cần tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số để có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay thực chất đối với khu vực sản xuất.

Thứ tư, nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, dòng vốn sẽ khó phát huy hiệu quả nếu doanh nghiệp thiếu phương án kinh doanh khả thi, năng lực quản trị yếu hoặc phụ thuộc quá lớn vào thị trường truyền thống.

Thứ năm, kiểm soát chặt tín dụng rủi ro nhưng không siết cực đoan, điều quan trọng là định hướng dòng vốn vào sản xuất – kinh doanh, thay vì đầu cơ tài sản, song vẫn cần tạo điều kiện cho các dự án bất động sản phục vụ nhu cầu ở thực và phát triển đô thị bền vững.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.