
(Công Thương) - Việt Nam sở hữu nguồn năng lượng mặt trời dồi dào nhưng không đồng đều. Sự khác biệt ấy đang tạo nên một “bản đồ nắng” với những lợi thế phát triển điện mặt trời rất khác nhau cho từng vùng, miền.
Cùng nằm trên dải đất hình chữ S nhưng tiềm năng năng lượng mặt trời giữa các vùng lại không đồng đều. Bản đồ bức xạ mặt trời Việt Nam do 3 viện nghiên cứu hàng đầu của Tây Ban Nha là CIEMAT, CENER, IDEA lập dựa trên cơ sở số liệu của 171 trạm đo khí tượng thủy văn của Việt Nam đo số giờ nắng trong 30 năm, cơ sở dữ liệu ảnh vệ tinh trong 5 năm và dữ liệu của 12 trạm đo khí tượng thủy văn tự động trong 2 năm cho thấy, từ Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là những "thủ phủ nắng" với bức xạ mặt trời đạt 4,9 - 5,7 kWh/m²/ngày, số giờ nắng bình quân từ 2.000 – 3.100 giờ mỗi năm. Trái lại, miền Bắc chịu ảnh hưởng mạnh của tính mùa vụ và thời tiết, khiến cường độ bức xạ chỉ quanh mức 4 kWh/m²/ngày, cùng 1.500 - 1.700 giờ nắng/năm.
Bức xạ mặt trời đo trên mặt đất của Việt Nam chênh nhau rõ rệt theo vĩ độ và theo mùa. Vùng từ Nam Trung Bộ qua Tây Nguyên xuống Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có cường độ bức xạ phổ biến 4,9 đến 5,7 kWh trên mỗi mét vuông mỗi ngày, số giờ nắng 2.000 đến 3.100 giờ một năm. Miền Bắc thấp hơn hẳn, quanh mức 4 kWh trên mỗi mét vuông mỗi ngày và chỉ 1.500 đến 1.700 giờ nắng.
Chênh lệch ấy không phải nhận định riêng của một bên. Theo dữ liệu bức xạ ngang toàn cầu trên Global Solar Atlas do Ngân hàng Thế giới phối hợp công bố, vùng Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ thuộc nhóm chỉ số bức xạ ngang cao nhất cả nước.
Trong Cẩm nang công nghệ sản xuất điện Việt Nam 2026 của Cục Điện lực (Bộ Công Thương) và Cục Năng lượng Đan Mạch nghiên cứu phối hợp công bố cho thấy, năng lượng mặt trời trung bình năm được tiếp nhận trên bề mặt nằm ngang ở Việt Nam dao động trong khoảng 1200 kWh - 2000 kWh /m2. Ở Việt Nam, tiềm năng điện mặt trời tập trung ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và miền Nam với vĩ độ từ 9° (Cà Mau) đến 14° (Gia Lai).
Trong các báo cáo về triển vọng năng lượng tái tạo của Việt Nam, Cơ quan Năng lượng tái tạo Quốc tế (IRENA) cũng đánh giá Việt Nam có tiềm năng điện mặt trời lớn nhờ bức xạ cao ở nhiều vùng. Chính lợi thế bức xạ ấy cộng với cơ chế giá ưu đãi giai đoạn 2017 đến 2020 đã đưa Việt Nam từ thị trường gần như bằng không thành một trong những thị trường dẫn đầu Đông Nam Á chỉ trong vài năm.
Khoảng cách bức xạ không chỉ là con số trên giấy mà quyết định một tấm pin đặt xuống sẽ làm ra bao nhiêu điện trong suốt vòng đời. Miền Bắc còn vướng bất lợi riêng là mùa đông nhiều mây và nồm ẩm kéo dài, khiến sản lượng các tháng cuối và đầu năm sụt sâu, trong khi dải phía Nam có mùa khô dài, trời ít mây, bức xạ ổn định gần như quanh năm. Đó là lý do gần như toàn bộ nhà máy điện mặt trời quy mô lớn của cả nước, từ làn sóng đầu tiên đến nay, đều nằm ở khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ...
Theo một nghiên cứu của Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), dải đất Nam Trung Bộ, đặc biệt là khu vực Ninh Thuận cũ thuộc tỉnh Khánh Hòa hiện nay, được đánh giá là một trong những "thủ phủ nắng" của Việt Nam. Nơi đây có số giờ nắng phổ biến từ 2.000 - 2.600 giờ mỗi năm, cường độ bức xạ mặt trời trung bình 4,9 - 5,7 kWh/m²/ngày, thuộc nhóm cao nhất cả nước. Riêng khu vực Nha Trang và vùng phụ cận có thời điểm ghi nhận mức bức xạ trên 5,8 kWh/m²/ngày trong khoảng tám tháng của năm.
Phía sau dải nắng Nam Trung Bộ là cao nguyên Đắk Lắk, Gia Lai với nền bức xạ phổ biến 5,0 - 5,5 kWh/m²/ngày. Tiếp đó là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nơi cường độ bức xạ dao động từ 4,3 - 5,7 kWh/m²/ngày tùy mùa. Tất cả tạo nên một vành đai năng lượng mặt trời rộng lớn, liền mạch từ duyên hải đến nội địa và xuống tận cực Nam đất nước.
Nếu quy về sản lượng điện trên mỗi kWp công suất lắp đặt, bức tranh điện mặt trời của Việt Nam càng nghiêng rõ về phía Nam. Theo số liệu của Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đạt sản lượng khoảng 1.387 - 1.534 kWh/kWp/năm. Dải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nơi có bức xạ cao cùng điều kiện thời tiết khô ráo hơn, còn ghi nhận mức sản lượng riêng cao hơn nữa.
Khoảng cách giữa các vùng không chỉ thể hiện trên bản đồ bức xạ mà còn được phản ánh trực tiếp qua sản lượng điện thực tế. Theo loạt bài về điện mặt trời mái nhà do Báo Công Thương thực hiện, với cùng công nghệ và công suất lắp đặt, sản lượng điện trên mỗi kWp tại miền Bắc chỉ đạt khoảng 67,5% so với miền Nam, tương đương mức chênh lệch khoảng 32 - 33%.
Riêng tại TP. Hồ Chí Minh, số liệu EVN công bố cho thấy trong năm 2026, mỗi kWp điện mặt trời tạo ra trung bình khoảng 1.426 kWh điện, thuộc nhóm có sản lượng riêng cao của cả nước. Trong khi đó, tại nhiều địa phương phía Bắc, sản lượng điện của các hệ thống điện mặt trời thường dao động quanh mức 1.100 - 1.200 kWh/kWp/năm, tùy điều kiện khí hậu, vị trí lắp đặt và chất lượng thiết bị.
Điều đó đồng nghĩa với việc cùng một hệ thống pin mặt trời, đặt tại những vùng có điều kiện bức xạ và thời tiết thuận lợi ở phía Nam có thể tạo ra lượng điện lớn hơn đáng kể so với khi lắp đặt tại đồng bằng Bắc Bộ. Đây cũng là lý do các nhà đầu tư không chỉ nhìn vào số giờ nắng hay cường độ bức xạ, mà đặc biệt quan tâm đến chỉ số sản lượng riêng - thước đo phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế của dự án.
Chênh lệch sản lượng riêng có ý nghĩa kinh tế trực tiếp, bởi suất đầu tư cho một kWp điện mặt trời gần như nhau ở mọi nơi, nhưng số điện thu về lại khác nhau theo vùng. Cùng một đồng vốn, dự án ở Khánh Hoà hay Đắk Lắk hoàn vốn nhanh hơn, biên lợi nhuận dày hơn dự án cùng quy mô ở phía Bắc. Lợi thế ấy còn nhân lên ở Đông Nam Bộ, nơi vừa giàu nắng vừa nằm sát các khu công nghiệp tiêu thụ điện lớn, nên điện làm ra dùng được ngay tại chỗ, đỡ phải tải đi xa.
Chính lợi thế về bức xạ và sản lượng điện đã lý giải vì sao nhiều dự án điện mặt trời tập trung vào một số địa phương nhất định. Phần đất Ninh Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa, là ví dụ điển hình khi đến cuối năm 2024 đã có 34 dự án điện mặt trời đi vào vận hành với tổng công suất 2.376 MW. Trong số đó, Nhà máy điện mặt trời Trung Nam Thuận Nam công suất 450 MW từng là dự án lớn nhất cả nước.
Tại Tây Nguyên, cụm điện mặt trời Xuân Thiện Ea Súp (Đắk Lắk) đã đưa vào vận hành 600 MW trong tổng quy mô 831 MWp, kết nối qua một trạm biến áp 500 kV riêng và cung cấp khoảng 1,5 tỷ kWh điện mỗi năm. Trong khi đó, Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng công suất 600 MW được xây dựng trên vùng bán ngập hồ Dầu Tiếng thuộc Tây Ninh, trở thành một trong những tổ hợp điện mặt trời nổi bật nhất khu vực phía Nam.
Không phải ngẫu nhiên các dự án quy mô lớn đều xuất hiện tại những địa điểm này. Trên bản đồ bức xạ mặt trời của Việt Nam, đó đều là những "điểm nóng năng lượng", nơi hội tụ điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất để tối đa hóa sản lượng điện và hiệu quả đầu tư.
Bản đồ bức xạ mặt trời tự thân không phải là một chính sách. Nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong định hướng phát triển năng lượng mà Việt Nam đã lựa chọn.
Định hướng ấy được hình thành và hoàn thiện qua nhiều cấp độ, từ chủ trương của Đảng, luật của Quốc hội đến các chính sách điều hành của Chính phủ. Ngay từ năm 2020, Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đã xác định mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp lên khoảng 15 - 20% vào năm 2030 và 25 - 30% vào năm 2045, đồng thời nhấn mạnh quan điểm ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới và năng lượng sạch.
Đến năm 2025, định hướng này tiếp tục được nâng lên một bước mới với Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đặt mục tiêu năng lượng tái tạo chiếm khoảng 25 - 30% tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2030, đồng thời xác định an ninh năng lượng là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, dải bức xạ cao trải dài từ Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long không còn đơn thuần là lợi thế tự nhiên. Đây chính là nguồn lực quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu về chuyển dịch năng lượng, giảm phát thải và bảo đảm an ninh năng lượng mà các nghị quyết của Đảng đã đặt ra.
Cũng cần lưu ý rằng mục tiêu 25 - 30% trong Nghị quyết 70 đề cập đến tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp, không phải tỷ trọng trong riêng cơ cấu sản xuất điện. Đây là hai thước đo khác nhau và thường dễ bị nhầm lẫn khi đánh giá vai trò của điện mặt trời trong bức tranh năng lượng quốc gia.
Chủ trương của Đảng nhanh chóng được thể chế hóa bằng các quyết sách của Quốc hội. Nghị quyết số 253/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, đã xác lập cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tạo hành lang pháp lý quan trọng để thúc đẩy các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời.
Nhìn tổng thể, có thể thấy một mạch chính sách xuyên suốt và thống nhất: từ Nghị quyết 55-NQ/TW và Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, đến Nghị quyết 253/2025/QH15 của Quốc hội, rồi được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chương trình và quyết định điều hành của Chính phủ. Chính dòng chảy chính sách đó đang từng bước biến lợi thế nắng gió của Việt Nam thành nguồn lực phát triển, đồng thời phục vụ mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch xanh của nền kinh tế.
Từ các định hướng chiến lược đó, Quy hoạch điện VIII đã cụ thể hóa thành những mục tiêu có thể đo đếm và theo dõi được. Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tiếp tục kế thừa mục tiêu đã được xác lập tại Quyết định số 500/QĐ-TTg: đến năm 2030, có 50% trụ sở công sở và 50% hộ gia đình sử dụng điện mặt trời mái nhà theo mô hình tự sản, tự tiêu, phục vụ nhu cầu tại chỗ và không bán điện lên hệ thống điện quốc gia.
Hai con số "50%" không chỉ là mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, mà là thước đo cho mức độ lan tỏa của chuyển dịch năng lượng trong đời sống và sản xuất. Và khi đặt mục tiêu ấy lên bản đồ bức xạ mặt trời, có thể thấy phần lớn dư địa tăng trưởng nằm ở các địa phương phía Nam - nơi cường độ bức xạ cao hơn, sản lượng điện trên mỗi kWp lớn hơn và hiệu quả đầu tư của mỗi tấm pin được phát huy tối đa.
Nói cách khác, bản đồ nắng không chỉ phản ánh lợi thế tự nhiên. Đó còn là bản đồ chỉ dẫn nơi các mục tiêu của Quy hoạch điện VIII có khả năng được hiện thực hóa nhanh nhất và hiệu quả nhất trong thập niên tới.
Trong các phân tích về chương trình điện mặt trời mái nhà của Việt Nam của Ngân hàng Thế giới, từng nhận định tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời mái nhà của Việt Nam lớn gấp nhiều lần công suất đã lắp, đậm nhất ở đô thị và khu công nghiệp, và đánh giá mái nhà là một lựa chọn then chốt vừa giảm sức ép lưới vừa đáp ứng nhu cầu điện đang tăng. Nhận định đó trùng khít với hình dạng tấm bản đồ: kho mái lớn nhất nằm đúng nơi nắng đậm và phụ tải công nghiệp dày nhất.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời của cả nước được ước tính khoảng 963.000 MW, gồm mặt đất 837.400 MW, mặt nước 77.400 MW và mái nhà 48.200 MW. Cần nói ngay đây là tiềm năng kỹ thuật, tức giới hạn vật lý nếu phủ kín mọi diện tích phù hợp, hoàn toàn khác với công suất khả thi thương mại, tức phần thực sự làm được sau khi tính tới lưới điện, vốn, đất đai và hiệu quả kinh tế. Con số gần một triệu MW không phải mục tiêu lắp đặt, mà là trần lý thuyết để biết dư địa nằm ở đâu.
Điện mặt trời mặt đất chiếm phần lớn tiềm năng và là loại hình của các nhà máy lớn. Lợi thế của nó là quy mô và giá thành trên mỗi kWh thấp, nhưng nó ngốn đất và phụ thuộc nặng vào lưới truyền tải. Phần lớn quỹ đất phù hợp nằm ở vùng khô hạn Nam Trung Bộ và đất đỏ Tây Nguyên, nơi đất nông nghiệp giá trị thấp có thể chuyển sang phát điện. Câu chuyện đất sỏi đá Ea Súp hoá thành vùng phát điện là một minh hoạ cho hướng đi này.
Điện mặt trời mái nhà có tiềm năng kỹ thuật khiêm tốn hơn nhưng lại là trọng tâm chính sách hiện nay, vì nó không cần đất mới, gắn thẳng với nơi tiêu thụ và ít phụ thuộc lưới truyền tải. Khung pháp lý cho loại hình này cũng đã rõ, Luật Điện lực số 61/2024/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 30/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, lần đầu luật hoá điện tự sản xuất, tự tiêu thụ từ nguồn năng lượng tái tạo: Điều 20 khuyến khích phát triển điện gió, điện mặt trời và ưu tiên kết hợp lưu trữ; Điều 22 cho phép nguồn tự sản tự tiêu được đấu nối lưới quốc gia, được bán phần điện dư, và quy định Nhà nước hỗ trợ tài chính cho hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà cùng hệ thống lưu trữ. Kho "tài nguyên năng lượng" lớn nhất hiện nay nằm trên mái các khu công nghiệp và nhà dân ở những vùng nhiều nắng. Đến cuối năm 2024, Việt Nam đã có hơn 103.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất trên 9.500 MW. Dù vậy, dư địa phát triển vẫn còn rất rộng, nhất là tại các khu công nghiệp phía Nam - nơi quỹ mái lớn, phụ tải cao và điều kiện bức xạ thuộc nhóm tốt nhất cả nước.
Điện mặt trời nổi là một dư địa phát triển rất lớn nhưng thường ít được nhắc tới. Việt Nam hiện có hơn 7.000 hồ chứa thủy điện và thủy lợi các loại, tạo ra quỹ mặt nước đáng kể cho việc phát triển các dự án điện mặt trời nổi. Theo Cẩm nang Công nghệ sản xuất điện Việt Nam 2026 của EAV và DEA, tiềm năng kỹ thuật của điện mặt trời nổi trên phạm vi cả nước được ước tính khoảng 77.476 MW, chỉ đứng sau điện mặt trời mặt đất và là một trong những nguồn năng lượng tái tạo có dư địa phát triển lớn trong những thập niên tới. Sức hấp dẫn của nó là tận dụng được lưới và trạm sẵn có của các nhà máy thuỷ điện, ổn định sản lượng mùa khô và giảm bốc hơi nước. Dự án Đa Mi 47,5 MWp vận hành từ 2019 là điện mặt trời nổi đầu tiên của Việt Nam; nay Tổng công ty Phát điện 1 đề xuất thêm ba dự án nổi gần 270 MW trên các hồ thuỷ điện ở Lâm Đồng. Hồ Trị An tại Đồng Nai và hồ Dầu Tiếng tại Tây Ninh là những mặt nước lớn còn nhiều chỗ trống.
Cuối cùng là điện mặt trời kết hợp nông nghiệp, mô hình dùng đất kép vừa phát điện vừa canh tác, rất hợp với một vùng nông nghiệp lớn như Nam Bộ. Nghiên cứu tại Cần Thơ cho thấy nhiều loại cây trồng và vật nuôi có thể chung sống dưới giàn pin. Điện mặt trời nổi và các mô hình nông nghiệp kết hợp năng lượng tái tạo đang mở ra dư địa phát triển mới cho Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại Bạc Liêu, nhiều mô hình nuôi tôm kết hợp điện mặt trời đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm chi phí điện, giảm phát thải khí nhà kính và hạn chế bốc hơi nước trên mặt ao. Trong khi đó, theo nghiên cứu của GIZ được Bộ Công Thương dẫn lại, tổng tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời của toàn vùng có thể đạt tới 136.275 MW, với sản lượng điện ước tính khoảng 216,5 tỷ kWh mỗi năm. So với quy mô đã khai thác hiện nay, nguồn tài nguyên năng lượng này vẫn còn gần như ở trạng thái "chưa đánh thức".
Tấm bản đồ nắng có một vết rạn, nơi nắng tốt nhất lại thường là nơi xa các trung tâm tiêu thụ nhất, và hạ tầng truyền tải không theo kịp tốc độ mọc lên của các nhà máy. Chính khoảng cách ấy đã tạo nên một trong những nút thắt lớn nhất của ngành điện trong giai đoạn bùng nổ năng lượng tái tạo.
Nhưng chính tại "thủ phủ nắng" của cả nước cũng xuất hiện một bài học đắt giá. Khi làn sóng đầu tư điện mặt trời tăng tốc trong các năm 2019 - 2020 để đón cơ chế giá ưu đãi, tốc độ phát triển nguồn điện đã vượt xa tốc độ mở rộng lưới truyền tải. Nhiều đường dây và trạm biến áp ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận thường xuyên vận hành trong tình trạng đầy tải, thậm chí quá tải, khiến một phần công suất điện mặt trời không thể giải tỏa hết.
Đây không phải vết xe của riêng Việt Nam. Trong các báo cáo về triển vọng năng lượng Đông Nam Á, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) từng cảnh báo rằng tốc độ triển khai điện mặt trời quá nhanh đã khiến lưới Việt Nam tắc nghẽn và cắt giảm điện tái tạo ngày càng tăng vì hạ tầng truyền tải không theo kịp, và rút ra bài học phải bảo đảm năng lực lưới trước khi mở rộng nhanh cơ chế giá ưu đãi. Tổ chức Ember, trong phân tích về ba nền kinh tế ASEAN gồm Việt Nam, cũng ghi nhận Việt Nam đi đầu khu vực về điện mặt trời nhưng vướng nút thắt lưới, năng lực truyền tải liên vùng còn hạn chế. Ngân hàng Thế giới thì khuyến nghị Việt Nam cần đầu tư đáng kể vào truyền tải và phân phối, đồng thời cải cách vận hành hệ thống và khung pháp lý, mới tích hợp được tỷ trọng ngày càng lớn của điện mặt trời mà vẫn giữ độ tin cậy.
Cắt giảm công suất nghĩa là điện sạch đã làm ra phải đổ đi, nhà đầu tư chịu thiệt trực tiếp còn hệ thống lãng phí một nguồn lực quý. Đây là cái giá kinh điển của việc phát triển nguồn chạy trước, lưới chạy sau. Một dải đất thừa nắng, đáng lẽ là lợi thế tuyệt đối, lại trở thành điểm nghẽn vì lưới truyền tải không được đầu tư kịp thời và thiếu nơi để chứa điện lúc thừa.
Từ những bài học của giai đoạn bùng nổ điện mặt trời, lời giải cho bài toán phát triển trong thời gian tới đang dần hình thành theo hai hướng. Thứ nhất là ưu tiên các mô hình ít phụ thuộc vào hạ tầng truyền tải, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, nơi điện được sản xuất và sử dụng ngay tại chỗ, giảm áp lực cho lưới điện quốc gia. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50% trụ sở công sở và 50% hộ gia đình sử dụng điện mặt trời mái nhà theo mô hình tự sản, tự tiêu. Thứ hai, Quyết định 768/QĐ-TTg yêu cầu điện mặt trời tập trung phải kết hợp lắp đặt pin lưu trữ tỷ lệ tối thiểu 10% công suất, tích trong 2 giờ, và đặt mục tiêu tổng công suất pin lưu trữ toàn quốc đạt 10.000 đến 16.300 MW vào 2030. Pin lưu trữ chính là thứ giúp dời điện từ giờ thừa nắng ban trưa sang giờ thiếu điện buổi tối, làm phẳng đỉnh sản lượng vốn dồn vào vài tiếng giữa ngày.
So với mức đã lắp khoảng 18.500 đến 20.000 MWp cuối năm 2024, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh mở trần điện mặt trời lên 46.459 đến 73.416 MW vào 2030, nghĩa là còn dư địa tăng thêm từ 25.000 đến hơn 53.000 MW. Theo quy luật phân bố bức xạ và nhu cầu phụ tải, phần lớn dư địa phát triển điện mặt trời trong những năm tới vẫn sẽ tập trung ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, tiềm năng trên bản đồ chỉ có thể chuyển hóa thành sản lượng điện thực tế khi hạ tầng lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và cơ chế chính sách phát triển đồng bộ.
Bên cạnh đó, một yếu tố mới cũng cần được tính đến. Sau quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhiều địa phương sẽ phải rà soát, cập nhật quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các đầu mối quản lý liên quan. Quá trình này có thể tạo ra độ trễ nhất định trong việc triển khai các dự án mới, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội để tái cấu trúc không gian phát triển năng lượng theo hướng hiệu quả và đồng bộ hơn.
Tấm bản đồ nắng vì thế không chỉ chỉ ra nơi nên đặt nhà máy. Nó chỉ ra cả nơi phải ưu tiên kéo lưới, đặt pin và phân bổ vốn. Đọc đúng nó, quy hoạch sẽ đặt nguồn vào đúng chỗ và tránh lặp lại cảnh thừa nắng mà phải cắt điện. Đọc sai, lợi thế trời cho sẽ tiếp tục bị lãng phí ngay trên vùng nắng đẹp nhất nước.
Bản đồ nắng cho biết Việt Nam đang giàu tài nguyên tới đâu và lệch tới đâu. Câu hỏi tiếp theo là cơ chế giá đã dẫn dòng vốn ấy đi như thế nào suốt từ thời FIT tới nay, vì sao giá đi xuống mà cơ chế lại phức tạp lên. Đó là nội dung kỳ sau của tuyến bài.