
(Công Thương) - Trong không gian phát triển mới, Bắc Ninh đang vươn mình khẳng định vị thế cực tăng trưởng công nghiệp phía Bắc. Nhưng phía sau khát vọng bứt phá là áp lực ngày càng lớn khi nhu cầu điện tăng nhanh, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một nền tảng năng lượng chủ động, bền vững.
Trở lại Bắc Ninh đúng vào thời điểm chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong một diện mạo mới, thành phố trực thuộc Trung ương, chúng tôi cảm nhận khá rõ một không khí phát triển mới cùng với đó là nhu cầu ngày càng lớn về hạ tầng, năng lượng cho chặng đường phía trước.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng và truyền thống lịch sử, văn hóa. Những năm qua, địa phương duy trì tốc độ phát triển khá cao. Giai đoạn 2021-2025, GRDP tăng bình quân 8,98%/năm, thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; quy mô nền kinh tế năm 2025 ước đạt 522 nghìn tỷ đồng, xếp thứ 5 toàn quốc.
Thực tế cho thấy, sau hợp nhất, Bắc Ninh bước vào một không gian phát triển mới với quy mô kinh tế, công nghiệp và dư địa đầu tư lớn hơn. Sự bổ trợ giữa vùng công nghiệp điện tử, bán dẫn, công nghệ cao của Bắc Ninh cũ với hệ thống khu công nghiệp, quỹ đất và các hành lang phát triển của Bắc Giang cũ đang tạo điều kiện hình thành một cực sản xuất quy mô lớn ở phía Bắc Thủ đô. Cùng với các tuyến giao thông kết nối Hà Nội, sân bay quốc tế Gia Bình và mạng lưới logistics đang được đầu tư, không gian kinh tế của địa phương ngày càng mở rộng.
Toàn thành phố hiện có 35 khu công nghiệp với tổng diện tích 10.496 ha, trong đó 23 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 96 cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.709 ha. Sau sáp nhập, Bắc Ninh vươn lên đứng thứ hai cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp, chỉ sau TP. Hồ Chí Minh và dẫn đầu khu vực phía Bắc.
Đây là nền tảng để Bắc Ninh chuyển từ một trung tâm sản xuất, lắp ráp quy mô lớn sang trung tâm công nghiệp công nghệ cao, hướng tới thu hút FDI thế hệ mới trong điện tử, bán dẫn, AI, công nghệ số và thiết bị thông minh.
Sức hút của không gian phát triển này thể hiện khá rõ qua dòng vốn đầu tư. Năm 2025, Bắc Ninh thu hút khoảng 5,5 tỷ USD vốn FDI, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, toàn thành phố thu hút hơn 9,86 tỷ USD vốn đầu tư quy đổi; trong đó cấp mới 177 dự án FDI với 708,76 triệu USD và 149 lượt dự án điều chỉnh tăng thêm hơn 1,63 tỷ USD.
Đáng chú ý, dòng vốn ngoại không chỉ tăng về lượng mà đang tập trung ngày càng sâu vào các ngành điện tử, bán dẫn và công nghệ cao. Đến giữa tháng 6/2026, riêng các khu công nghiệp có 1.672 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 41 tỷ USD, với sự hiện diện của Samsung, Foxconn, Luxshare, Goertek, Amkor, Hana Micron, Canon cùng nhiều tập đoàn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Không gian công nghiệp tiếp tục mở rộng, sức hút đầu tư ngày càng gia tăng, song chính tốc độ tăng trưởng nhanh đó cũng đặt bài toán năng lượng của thành phố vào vị trí cấp thiết hơn. Khi các khu công nghiệp tiếp tục được lấp đầy, những dự án điện tử, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và sản xuất thông minh đi vào vận hành, nhu cầu điện không chỉ tăng về sản lượng mà còn đòi hỏi độ ổn định và chất lượng cấp điện ngày càng cao. Bởi vậy, bảo đảm nguồn điện không còn đơn thuần là câu chuyện hạ tầng, mà trở thành điều kiện để Bắc Ninh duy trì sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, bảo đảm năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thực tế, điện đang trở thành một trong những bài toán lớn đi cùng tốc độ phát triển của Bắc Ninh. Giai đoạn 2021-2025, nhu cầu điện trên địa bàn tăng bình quân khoảng 13,5%/năm, sản lượng điện thương phẩm đạt 72,7 tỷ kWh.
Riêng năm 2026, công suất cực đại trên địa bàn đã vượt 3.200 MW (ngày 27/5/2026 mức công suất cực đại 3.230 MW), có thời điểm phụ tải tăng tới 32% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nguồn điện tại chỗ trên địa bàn còn hạn chế, một số nguồn điện từ xử lý rác thải và nguồn công suất nhỏ hiện chỉ vào khoảng 60 MW.
Do vậy, bài toán năng lượng của Bắc Ninh không chỉ dừng ở việc có đủ điện cho sản xuất. Việt Nam đã cam kết tại COP26 đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; các thị trường xuất khẩu lớn cũng ngày càng đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe hơn về sản xuất xanh và phát thải carbon. Với một địa phương có tỷ trọng công nghiệp và xuất khẩu lớn, những yêu cầu này tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn.
Trong bối cảnh đó, việc huy động thêm nguồn lực xã hội thông qua điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ chính là một trong những dư địa quan trọng để bổ sung nguồn điện tại chỗ, giảm áp lực cho hệ thống và đồng hành với quá trình “xanh hóa” các khu công nghiệp.
Từ yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng đến sức ép chuyển đổi xanh, Bắc Ninh đang đứng trước bài toán vừa phải đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp. Trong bối cảnh đó, điện mặt trời mái nhà không chỉ là giải pháp có thể triển khai ngay để bổ sung nguồn điện tại chỗ, mà còn mang ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng năng lượng chủ động, bền vững cho một cực tăng trưởng công nghiệp phía Bắc.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh nhấn mạnh một quan điểm xuyên suốt trong điều hành của thành phố:“Phải có điện mới có phát triển công nghiệp, phải có điện mới có phát triển kinh tế”.
Trước nhu cầu điện tăng mạnh từ một trung tâm công nghiệp lớn và từ quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của thành phố cho thấy, việc đảm bảo điện cho phát triển kinh tế trên địa bàn là hết sức cấp thiết.
Thông tin về nhu cầu sử dụng điện trên địa bàn, ông Nguyễn Minh Hiếu, Giám đốc Sở Công Thương thành phố Bắc Ninh cho biết, trong 5 tháng năm 2026, sản lượng điện thương phẩm đạt gần 7 tỷ kWh, tăng 12,72% so với cùng kỳ. Giai đoạn 2026-2030, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng bình quân khoảng 12,2%/năm, với sản lượng điện thương phẩm khoảng 129,7 tỷ kWh.
Riêng năm 2026, công suất cực đại trên địa bàn đã vượt 3.200 MW (ngày 27/5/2026 mức công suất cực đại 3.230 MW), có thời điểm phụ tải tăng tới 32% so với cùng kỳ năm 2025. Theo dự báo, con số này sẽ lên khoảng 3.558 MW vào năm 2027, nghĩa là mỗi năm thành phố cần thêm khoảng 300 MW nguồn mới đang đặt ra thách thức lớn về việc cung ứng điện trên địa bàn trong giai đoạn tới.
Về cơ cấu nguồn điện, theo Sở Công Thương Bắc Ninh, hiện thành phố có 3 nhóm nguồn tại chỗ. Lớn nhất là Nhiệt điện Sơn Động của TKV, công suất 220 MW, đã sản xuất gần 20 tỷ kWh sau hai thập kỷ. Nhóm thứ hai là điện rác, với 4 nhà máy tổng công suất hơn 36 MW. Tiêu biểu là Nhà máy Ngũ Thái 13 MW, mỗi ngày xử lý khoảng 490 tấn rác. Nhóm thứ ba là điện mặt trời mái nhà: đã có gần 1.380 hệ thống được lắp đặt, trong đó khoảng 285 MW đang vận hành. Tuy vậy, tổng các nguồn này vẫn nhỏ so với phụ tải, nên thành phố còn phụ thuộc chủ yếu vào lưới quốc gia.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, thành phố có 17 dự án nguồn với tổng công suất khoảng 1.932 MW. Dự án trọng điểm là Nhiệt điện An Khánh - Bắc Giang: công suất 650 MW, vốn gần 30.000 tỷ đồng, dự kiến phát điện tháng 6/2029. Điện gió được quy hoạch khoảng 800 MW, trong đó hai dự án SD Sơn Động và Bắc Giang 2, tổng 160 MW, dự kiến vận hành quý III/2028. Nhà máy rác Bắc Giang tại Đa Mai đã đạt khoảng 51% khối lượng, phấn đấu vận hành tháng 6/2027.
Riêng điện mặt trời mái nhà, mục tiêu của Bắc Ninh là 3.392 MW đến năm 2035 (gồm khoảng 1.619 MW tại khu vực Bắc Ninh cũ và 1.773 MW tại khu vực Bắc Giang cũ).
Trong không gian mới, thách thức lớn nhất với thành phố là tiến độ, vì nhiều dự án nguồn và lưới 500 kV, 220 kV đang chậm. Dù vậy, thành phố vẫn đặt mục tiêu trở thành địa phương đầu tiên cơ bản tự chủ về nguồn điện.
Trước bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh, trong khi việc bổ sung nguồn điện lớn không thể thực hiện trong thời gian ngắn, ông Phạm Văn Thịnh nhấn mạnh:"Điện mặt trời mái nhà vừa có ý nghĩa trước mắt, vừa mang tính chiến lược".
Từ một nguồn điện phân tán mang tính bổ trợ, điện mái nhà được đặt vào quy mô hàng nghìn MW, trở thành một cấu phần đáng kể trong phương án phát triển nguồn điện của không gian một thành phố Kinh Bắc mới.
“Đây là một mục tiêu tham vọng, cũng là cơ hội to lớn để Bắc Ninh chuyển mình trong giai đoạn mới. Đạt được mục tiêu này sẽ góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh năng lượng, thu hút các nhà đầu tư lớn theo tiêu chuẩn xanh và khẳng định vị thế của Bắc Ninh trong tiến trình chuyển đổi năng lượng quốc gia”,Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh nhấn mạnh.
Nhìn nhận sự cấp thiết của điện mặt trời mái nhà trong bổ sung nguồn điện cho Bắc Ninh nói riêng và miền Bắc nói chung trước nhu cầu điện ngày càng tăng cao, ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc NSMO cho rằng, điện mặt trời mái nhà và dịch chuyển phụ tải là giải pháp có thể làm ngay. Từ góc độ điều độ, một trong những giải pháp có thể triển khai nhanh và mang lại hiệu quả sớm là phát triển nguồn điện phân tán phía khách hàng, đặc biệt điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống pin lưu trữ.
Ông Trung dẫn chứng, năm 2026, công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đã đạt khoảng 58.500 MW trong đợt nắng nóng cuối tháng 6; riêng miền Bắc khoảng 30.200 MW. Tốc độ tăng trưởng phụ tải toàn quốc có thể lên tới khoảng 13%, trong khi miền Bắc trên 14,4%.
Theo đó, Nguyễn Quốc Trung cho rằng:“Khi địa phương và Sở Công Thương vào cuộc quyết liệt, có chính sách hỗ trợ phù hợp, điện mặt trời mái nhà có thể giúp địa phương chủ động một phần nguồn điện, giảm phụ thuộc vào hệ thống điện bên ngoài”.
Thực tế, tại Bắc Ninh, đặc điểm sử dụng điện của nhiều nhà máy khá phù hợp với điện mặt trời do sản xuất tập trung vào ban ngày, cũng là thời gian hệ thống điện mặt trời phát tốt nhất. Nguồn điện được tạo ra ngay trên mái, sử dụng ngay trong nhà máy. Điện không phải truyền đi xa, đồng thời giảm lượng công suất phải lấy từ lưới. Đó cũng là cách điện mặt trời mái nhà được định hướng phát triển theo mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Nhìn lại hành trình phát triển điện mặt trời mái nhà, có thể thấy nguồn điện từ những mái nhà đã từng bước được đặt vào bài toán lớn hơn: huy động nguồn lực xã hội để bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng. Từ hàng loạt cơ chế khuyến khích tự sản xuất, tự tiêu thụ đã mở đường để doanh nghiệp, người dân cùng tham gia đầu tư, bổ sung nguồn điện tại chỗ và giảm áp lực cho hệ thống điện.
Dấu mốc từ Nghị quyết 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị, xác lập định hướng ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng. Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa trong Quy hoạch điện VIII, với mục tiêu đến năm 2030 có 50% tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Tuy nhiên, sau một thời gian chờ cơ chế chuyển tiếp, bước “mở van” đáng chú ý về cơ chế là Nghị định 135/2024/NĐ-CP ngày 22/10/2024. Lần đầu tiên, Chính phủ ban hành một nghị định riêng về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ với 9 chính sách khuyến khích: miễn giấy phép hoạt động điện lực và không giới hạn công suất trong một số trường hợp; hưởng ưu đãi thuế theo quy định; rút gọn thủ tục hành chính. Đáng chú ý, điện dư đủ điều kiện được bán lên hệ thống điện quốc gia với tỷ lệ tối đa 20% công suất lắp đặt thực tế, qua đó mở thêm dư địa kinh tế để hộ dân, doanh nghiệp tham gia đầu tư điện mặt trời mái nhà.
Động lực chính sách tiếp tục được hoàn thiện với Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 55, Bộ Chính trị đặt yêu cầu bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng cho phát triển nhanh, bền vững; đồng thời khuyến khích mạnh khu vực tư nhân tham gia đầu tư, phát triển năng lượng tái tạo, điện mặt trời mái nhà; hoàn thiện cơ chế giá, tín dụng và huy động các nguồn vốn xã hội, qua đó chuyển dần từ Nhà nước bảo đảm nguồn lực sang Nhà nước kiến tạo cơ chế để toàn xã hội cùng tham gia.
Tinh thần đó nhanh chóng chuyển thành yêu cầu hành động. Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 yêu cầu các địa phương xác định cụ thể mục tiêu phát triển điện mặt trời mái nhà, phân bổ chỉ tiêu và chủ động huy động nguồn điện tại chỗ, gắn với giảm phụ tải đỉnh và bảo đảm điện cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đáng chú ý, Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026, sửa đổi Nghị định 57/2025/NĐ-CP và Nghị định 58/2025/NĐ-CP, tiếp tục nới cơ chế khi nâng tỷ lệ sản lượng điện dư được mua bán từ mức tối đa 20% lên 50%; thậm chí đến hết năm 2030 có thể thỏa thuận cao hơn 50% nếu lưới điện đáp ứng điều kiện tiếp nhận và vận hành an toàn. Đây là bước mở rộng đáng kể không gian kinh tế cho điện mặt trời mái nhà, tạo thêm động lực để doanh nghiệp và người dân biến "khoảng trống" mái nhà thành nguồn điện phục vụ chính nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và chia sẻ với hệ thống.
Từ hành lang chính sách được mở ra, bài toán đặt ra cho Bắc Ninh là làm thế nào để huy động nguồn lực xã hội cùng tham gia tạo nguồn điện. Một con số quy hoạch không tự biến thành nguồn điện, để hiện thực hóa mục tiêu khoảng 3.392 MW điện mặt trời mái nhà vào năm 2035, Bắc Ninh phải biến định hướng chính sách thành từng quyết định đầu tư cụ thể “chạm” doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, từng bước chuyển từ vận động sang lượng hóa hiệu quả kinh tế, xác định đối tượng, giao chỉ tiêu và tạo điều kiện để nguồn lực xã hội tham gia.
Bài 2: Biến chủ trương thành hành động