
(Công Thương) - 980 triệu lít xăng sinh học đã được bán ra trên cả nước chỉ trong 28 ngày đầu tháng 6/2026, trong đó 924 triệu lít là xăng E10.
Cùng thời điểm, số ngày dự trữ xăng dầu đã được nâng từ khoảng 15 lên khoảng 26 ngày, giá xăng dầu trong nước sau khi tăng 44 tới 73% so với trước xung đột đã hạ về dưới 20.000 đồng/lít rồi lại nhích lên. Đằng sau những con số ấy là ba lớp phòng thủ: dự trữ, thuế phí và nhiên liệu sinh học.
Ngành Công Thương 8 tháng đầu năm 2026, đọc trong một năm mà tăng trưởng toàn cầu được dự báo chỉ 3,0%, khối lượng thương mại thế giới tăng 3,5% và giá năng lượng cao hơn khoảng 25% so với trước chiến sự (Quỹ Tiền tệ quốc tế, Cập nhật Triển vọng Kinh tế thế giới tháng 7/2026).
Báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Đảng uỷ Bộ Công Thương ghi nhận, giá xăng dầu trong nước đã tăng 44 tới 73% so với trước xung đột tại Trung Đông, tạo áp lực kép lên lạm phát, chi phí sản xuất kinh doanh và đời sống. Cùng bản dự thảo này xác định, Bộ Công Thương giữ vai trò nòng cốt trong Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng của Thủ tướng Chính phủ.
Quy mô của bài toán được chính Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu tại phiên thảo luận tổ Quốc hội ngày 10/4/2026: tổng nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước năm 2025 khoảng 26,2 triệu m3, năm 2026 dự báo hơn 28 triệu m3 (đơn vị gốc trong phát biểu ghi kèm cả tấn cho mặt hàng dầu mazut, bài này giữ nguyên số, không quy đổi); hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn đáp ứng khoảng 70%, phần 30% còn lại dựa vào nhập khẩu và tính cả dầu thô lẫn xăng dầu thành phẩm thì nguồn nhập phụ thuộc khoảng 70% vào khu vực Trung Đông. Bộ trưởng cũng thẳng thắn nhìn nhận, dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông tối thiểu vào thời điểm đó còn rất khó khăn.
Phản ứng chính sách về thuế đi theo ba nhịp: Quyết định 482/QĐ-TTg ngày 26/3/2026 đưa thuế bảo vệ môi trường với xăng, dầu diesel, nhiên liệu bay về 0 đồng/lít và thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% tới hết ngày 15/4; Nghị quyết 19/2026/QH16 ngày 12/4/2026 kéo các mức này tới hết 30/6; Nghị quyết của Chính phủ tiếp tục kéo dài tới hết ngày 30/9/2026, riêng thuế tiêu thụ đặc biệt trở lại theo Luật số 66/2025/QH15 với xăng khoáng 10%, E5 là 8%, E10 là 7%.
Cú sốc giá đầu năm không chỉ để lại các con số điều hành. Nó để lại một nhiệm vụ được giao bằng văn bản. Ngày 20/3/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, yêu cầu bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu, giao Đảng uỷ các Bộ Ngoại giao, Công Thương, Tài chính trao đổi với đối tác nước ngoài để bảo đảm nguồn cung, đồng thời yêu cầu sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn. Cùng hướng đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/01/2026 đặt chỉ tiêu kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng cho cả năm, mà giá nhiên liệu là một trong những cấu phần biến động mạnh nhất.
Đọc lại các dữ kiện phía trên dưới ánh sáng của Kết luận ấy thì thấy hai vế rõ rệt. Vế xử lý tình huống đã được làm: ba kịch bản, số ngày dự trữ nâng lên, giá bán lẻ giữ trong biên độ, chế tài với thương nhân đầu mối không duy trì dự trữ tối thiểu. Vế còn lại, tức chiến lược quốc gia dài hạn về dự trữ, thì mới ở giai đoạn nghiên cứu phương án, đúng như Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam nhận xét về Quy hoạch năm 2023: mục tiêu đã có, còn cơ chế Nhà nước đầu tư bao nhiêu và thu hút doanh nghiệp thế nào thì chưa cụ thể. Khoảng cách giữa hai vế ấy chính là phần việc mà Kết luận 14-KL/TW đặt lên bàn.
Tại tổ Quốc hội ngày 10/4/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết ba kịch bản đã được xây dựng: kịch bản cơ sở là xung đột kết thúc trong 4 tuần, kịch bản lựa chọn là “4 tuần cộng 2” và kịch bản dự phòng cao hơn nữa; diễn biến tới thời điểm đó cơ bản rơi vào kịch bản thứ hai. Kết quả được Bộ trưởng nêu là số ngày dự trữ đã nâng từ khoảng 15 lên khoảng 26 ngày và sẽ tiếp tục nâng, giá xăng RON95 trong nước giữ ở khoảng 23.000 tới 24.000 đồng/lít. Bộ trưởng đề nghị Quốc hội ủng hộ cơ chế giao Thủ tướng Chính phủ thẩm quyền điều hành thuế, phí xăng dầu để tăng độ linh hoạt trước biến động nhanh.
Ở nấc thực thi, ngày 5 và 7/5/2026, đoàn kiểm tra của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) phát hiện hai thương nhân đầu mối tại Đồng Tháp và Tây Ninh không duy trì mức dự trữ tối thiểu bắt buộc, xử phạt tổng cộng 320 triệu đồng. Ngày 23/7/2026, Cục tiếp tục ban hành Công văn 2371/TTTN-NV yêu cầu Sở Công Thương các địa phương kiểm tra bán lẻ xăng dầu, trọng tâm là dầu DO, xử lý găm hàng, bán nhỏ giọt, tự ý ngừng bán.
Ở tầm dài hạn, khoảng trống vẫn còn. Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo dẫn Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt được ban hành năm 2023 với mục tiêu dự trữ quốc gia dầu thô 15 tới 20 ngày nhập ròng, sản phẩm xăng dầu 25 tới 30 ngày nhập ròng, nhưng cơ chế Nhà nước đầu tư bao nhiêu, thu hút doanh nghiệp thế nào “chưa cụ thể”. Ngày 25/7/2026, Petrovietnam tổ chức hội nghị nghiên cứu phương án xây dựng kho dự trữ dầu thô quốc gia theo nhiệm vụ Chính phủ giao, gồm mô hình đầu tư, công nghệ, địa điểm và cơ chế vận hành.
Bài toán dự trữ có một vế ít được nói tới. Giữ được bao nhiêu ngày không chỉ phụ thuộc lượng hàng nằm trong kho mà còn phụ thuộc tốc độ tiêu dùng. Trong bài nói chuyện với các đại biểu nhân dân Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh gói vế ấy vào một câu: “Sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống”. Người nói câu đó năm 1957 về lương thực và của cải, nhưng phép tính thì không đổi: cùng một khối lượng dự trữ, cường độ tiêu dùng hạ xuống thì số ngày chịu đựng dài ra.
Đặt vào bài toán 28 triệu m3, điều đó có nghĩa là có hai hướng chứ không phải một. Hướng thứ nhất là nâng dự trữ từ 15 lên 26 ngày, phải xây kho và phải có tiền. Hướng thứ hai là hạ cường độ tiêu thụ xăng dầu tính trên mỗi đơn vị tổng sản phẩm trong nước, không phải xây thêm kho nào. Bộ chỉ tiêu mà ngành công bố hằng tháng hiện mới đo hướng thứ nhất; hướng thứ hai chưa có một dòng số liệu định kỳ nào, nên cũng chưa có cách nói xem nó đang tiến hay lùi.
Bàn về mức dự trữ thì phải bàn cả về thời điểm mua. Báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương nêu một khuyến nghị đáng chú ý ở tầm trung và dài hạn: Cơ quan Năng lượng Quốc tế cùng Ngân hàng Thế giới đều cảnh báo khả năng thị trường dầu chuyển sang dư cung lớn vào năm 2027. Cần ghi rõ giới hạn của phần này: cảnh báo dư cung năm 2027 được dẫn theo tường thuật trong báo cáo của Viện, bài chưa đối chiếu được bản gốc của Cơ quan Năng lượng Quốc tế và của Ngân hàng Thế giới nên không nêu tên báo cáo cùng mốc công bố của hai tổ chức này. Vì vậy phần dưới đây đọc như một khuyến nghị chính sách của Viện, không đọc như một dự báo đã được kiểm chứng tại nguồn gốc. Theo Viện, chính cảnh báo ấy mở ra dư địa để Việt Nam tính toán lại chiến lược dự trữ, đồng thời đàm phán hợp đồng nhập khẩu nhiên liệu dài hạn với giá thuận lợi hơn.
Trước khi đi tiếp, cần nói rõ cách đọc chính chỉ số số ngày dự trữ, vì đây là chỗ dễ hiểu nhầm nhất trong cả bài. Số ngày dự trữ là một phân số: Tử số là khối lượng đang giữ trong kho, mẫu số là mức tiêu thụ bình quân một ngày. Con số ấy tăng khi bơm thêm hàng vào kho, nhưng cũng tăng khi mức tiêu thụ hằng ngày giảm đi mà kho giữ nguyên. Năm nay cả hai vế đều động: Ngành bổ sung dự trữ, đồng thời giá xăng dầu có giai đoạn tăng từ 44 tới 73% so với trước xung đột, mà giá cao thì kéo tiêu thụ xuống. Vì vậy bước từ 15 lên 26 ngày cần được hiểu là kết quả của cả hai chiều, chứ không phải chỉ là lượng hàng đã mua thêm. Muốn tách bạch hai phần ấy thì phải có khối lượng tồn kho tuyệt đối theo từng thời điểm, số liệu này chưa được công bố nên bài không tách được. Đây là một giới hạn cần nói thẳng. Điều đó không làm giảm ý nghĩa của con số 26 ngày, nhưng nó đổi cách đọc: 26 ngày là mức an toàn đo theo nhịp tiêu dùng hiện nay, còn khi kinh tế hồi phục và tiêu thụ tăng trở lại thì cùng một lượng hàng trong kho sẽ ứng với số ngày ít hơn.
Đặt cạnh kịch bản nâng dự trữ từ 15 lên 26 ngày đã nêu ở trên, khuyến nghị này bổ sung một chiều mà các con số ngày dự trữ không nói ra: nâng dự trữ vào lúc giá đang cao thì tốn gấp bội so với nâng vào lúc thị trường dư cung. Nếu dự báo dư cung năm 2027 thành hiện thực thì đó là cửa sổ hẹp để vừa mua bổ sung cho kho quốc gia vừa chốt hợp đồng dài hạn. Bỏ lỡ cửa sổ ấy thì mục tiêu 26 ngày vẫn đạt được nhưng chi phí đội lên.
Ở chiều ngắn hạn thì sức ép vẫn hiện hữu. Cũng theo báo cáo ấy, giá khí hoá lỏng giao ngay tại châu Á theo chỉ số JKM có lúc vượt 19 USD một triệu BTU, tiếp tục là rủi ro chi phí lớn cho các nhà máy điện mua khí theo giá giao ngay. Giá dầu thì biến động mạnh trong chính tháng 6: dầu Brent từ khoảng 96 USD một thùng đầu tháng giảm còn 72,68 USD một thùng vào ngày 26/6, dầu WTI từ gần 94 USD xuống khoảng 69,42 USD, sau khi Hoa Kỳ và Iran ký thoả thuận tạm thời ngày 17/6/2026. Nhưng Viện cũng lưu ý rằng diễn biến đóng và mở thất thường của eo biển Hormuz cho thấy rủi ro nguồn cung chưa được hoá giải, chỉ một động thái tái phong toả cũng đủ đảo chiều kỳ vọng và đẩy giá dầu, cước vận tải cùng phí bảo hiểm tăng trở lại.
Đó là lý do bài toán dự trữ không thể chỉ tính bằng số ngày. Nó phải tính cả nhịp thị trường.
Cửa sổ dư cung năm 2027 nêu ở mục trên thường được đọc như một cơ hội về giá. Có một lý do thứ hai nặng hơn lý do giá. Lý do ấy đã được đo trong một công trình sử kinh tế dầu mỏ.
Năm 2014, Nhà xuất bản Đại học Calgary phát hành Petropolitics: Petroleum Development, Markets and Regulations, Alberta as an Illustrative History của Alan J. MacFadyen và G. Campbell Watkins. Cuốn sách dựng lại toàn bộ lịch sử phát triển, thị trường cùng quy định của ngành dầu khí bang Alberta của Canada, rồi dùng lịch sử ấy làm phòng thí nghiệm để rút bài học cho các vùng dầu khác.
Khi phân tích hai cuộc khủng hoảng giá dầu thập niên 1970, hai tác giả chỉ ra một cơ chế mà các bản tóm tắt thường bỏ qua. Những người tham gia thị trường dầu thô ngoài khối OPEC, gồm nhà sản xuất, nhà máy lọc dầu, nhà kinh doanh và người tiêu thụ, đều không biết chắc khủng hoảng sẽ kéo dài bao lâu hay giá sẽ lên tới đâu. Phản ứng của họ là gom thêm dầu vào kho để dùng hoặc để bán lại sau. Hai tác giả viết rằng chính việc gom kho ấy “làm giảm nguồn cung và làm tăng nhu cầu trên thị trường giao ngay, đẩy giá giao ngay lên cao hơn nữa”. Họ dẫn dữ liệu sản lượng trong các cuộc khủng hoảng để cho thấy phần sản lượng thực sự mất đi nhỏ hơn nhiều so với mức giá phản ánh.
Hệ quả cho chính sách dự trữ là một điều kiện về thời điểm, đặt bên cạnh điều kiện về khối lượng chứ không thay cho nó. Một quốc gia bơm kho vào lúc thị trường đang căng thì hành vi của chính mình cộng vào cùng chiều với hành vi của mọi người khác. Tấm đệm dựng lên trong lúc ấy đắt hơn giá trị bảo hiểm nó mang lại. Ngược lại, kho được bơm đầy vào cửa sổ dư cung là kho được dựng bằng phần cung mà thị trường đang thừa, không cạnh tranh với ai.
Bài học này có hai chỗ chênh khi mượn về. Một, hai tác giả bàn về dầu thô, còn kho dự trữ nêu ở tuyến bài này là dự trữ xăng dầu thành phẩm, hai loại hàng khác nhau về cấu trúc thị trường, chi phí lưu kho cùng kênh cung ứng.Hai,chính hai tác giả không rút ra khuyến nghị nào cho chính sách dự trữ quốc gia; phần rút ra ấy là của bài này, dựa trên cơ chế thị trường mà họ mô tả.
Cũng chính hai tác giả này đặt một ngưỡng thận trọng ở chiều ngược lại. Khi bàn về mức tập trung trên 50% trữ lượng dầu quy ước của thế giới ở Trung Đông và Bắc Phi vào cuối năm 2011, họ nhận xét rằng bất ổn chính trị của khu vực này làm dấy lên lo ngại về an ninh nguồn cung, nhưng “rất dễ thổi phồng các rủi ro an ninh”. Câu ấy không bác bỏ việc dựng kho dự trữ. Nó đòi rằng quy mô kho phải bám vào một kịch bản gián đoạn được lượng hoá, chứ không bám vào cảm giác về mức độ nguy hiểm. Kịch bản bốn tuần cộng hai nêu ở mục trên là một kịch bản như thế. Đó là lý do nó kiểm chứng được.
Cú sốc năng lượng tháng 6/2026 không dừng ở giá xăng dầu. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc đã đo tác động của nó lên đời sống con người trên khắp châu Á và Thái Bình Dương. Việt Nam nằm trong phạm vi đánh giá ấy.
Báo cáo Leo thang quân sự tại Trung Đông: Tác động tới phát triển con người khắp châu Á và Thái Bình Dương, công bố ngày 14/4/2026, tổng hợp đánh giá tại 36 quốc gia kèm mô phỏng kinh tế vĩ mô. Ba con số đáng chú ý.
Báo cáo chỉ ra kênh truyền dẫn rõ ràng: hơn 80% lượng dầu thô và khí hoá lỏng đi qua eo biển Hormuz là để tới các thị trường châu Á, nên chi phí vận tải, điện, lương thực và phân bón trong khu vực tăng theo rất nhanh. Với một nền kinh tế hướng xuất khẩu như Việt Nam, biến động chi phí vận tải biển cùng năng lượng toàn cầu là thách thức trực tiếp. Con số ấy cũng giải thích vì sao luận điểm của Bernstein, dẫn ở mục ngay dưới đây, lại chạm đúng vào Việt Nam chứ không chỉ là chuyện của vùng Vịnh.
Phần đánh giá về phản ứng chính sách có cả hai vế. Cần dẫn đủ cả hai. Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Ramla Khalidi ghi nhận Việt Nam phản ứng kịp thời bằng các biện pháp tài khoá khẩn cấp cùng hỗ trợ giá để ổn định nền kinh tế. Ngay sau đó là lời nhắc: kinh nghiệm quốc tế cho thấy kéo dài các biện pháp hỗ trợ nhiên liệu hoá thạch có nguy cơ làm đảo ngược chính các mục tiêu chuyển dịch năng lượng của đất nước.
Lời nhắc ấy đặt đúng vào chỗ khó của bài toán đang bàn. Bình ổn giá xăng dầu là việc phải làm khi có cú sốc, nhưng làm kéo dài thì nó trở thành trợ giá cho nhiên liệu hoá thạch, đi ngược lộ trình chuyển dịch năng lượng. Đó là lý do vì sao dự trữ và đa dạng hoá nguồn cung mới là lời giải bền, còn công cụ giá chỉ là lời giải tạm.
Những gì xảy ra ở eo biển Hormuz tháng 6/2026 không phải chuyện bất ngờ của riêng năm nay. Nó là chương mới của một câu chuyện đã cũ.
Trong cuốn Lịch sử giao thương: Thương mại định hình thế giới như thế nào?, xuất bản năm 2008, William J. Bernstein dựng lại toàn bộ lịch sử thương mại đường biển và rút ra một nhận định về địa lý: khoảng 80% lượng giao dịch của thế giới đi bằng tàu, phần lớn phải qua một trong bảy lối đi trọng yếu. Ông chỉ đích danh ba nơi mà hệ thống thương mại thế giới dễ tổn thương nhất là kênh Suez, eo Hormuz và Bab el Mandeb, vì cả ba đều nằm ở vùng bất ổn. Về khả năng một trong những lối đi ấy bị đóng, Bernstein viết rằng trong vài thập niên tới đó không phải là điều hiếm hay có thể xảy ra, mà “gần như là chắc chắn xảy ra”.
Mười tám năm sau, tháng 6/2026, dự báo ấy ứng nghiệm. Các vụ tấn công tàu hàng tại Hormuz ngày 26 tới 28/6 đẩy giá dầu, cước vận tải và phí bảo hiểm tăng vọt, rồi thoả thuận Hoa Kỳ và Iran ngày 17/6 lại kéo giá xuống. Bài học Bernstein rút ra từ 2.500 năm lịch sử là buôn bán đường biển đòi hỏi sự ổn định chính trị tại các điểm hàng hải trọng yếu. Chiếm được những nơi ấy có thể khiến cả một quốc gia lâm vào đói kém.
Với Việt Nam, ý nghĩa thực tế rất cụ thể. Dự trữ xăng dầu không phải là chuyện phòng xa cho một rủi ro mơ hồ, mà là chuẩn bị cho một loại sự kiện mà lịch sử thương mại cho thấy sẽ lặp lại. Cách đặt vấn đề đúng vì thế không phải hỏi liệu Hormuz có bị đóng lần nữa hay không, mà hỏi khi nó bị đóng thì hệ thống dự trữ của ta đủ dùng bao nhiêu ngày. Đó chính là câu hỏi mà kịch bản nâng từ 15 lên 26 ngày đang trả lời.
Cuốn sách năm 2008 nêu vấn đề bằng lập luận. Năm 2026 đã có bản đo bằng số cho chính chỗ hiểm ấy.
Trong lời tựa báo cáo Southeast Asia Energy Outlook 2026, Tiến sĩ Fatih Birol, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế, mở đầu bằng một câu ngắn: “Thế giới đang đối mặt với mối đe doạ an ninh năng lượng lớn nhất trong lịch sử, hệ quả của cuộc xung đột ở Trung Đông”. Ông viết tiếp rằng, Đông Nam Á nằm trong số những khu vực chịu tác động nặng nhất của cuộc khủng hoảng ấy, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế then chốt của giai đoạn tới.
Mức phơi nhiễm của khu vực được cơ quan này lượng hoá: “Sự phụ thuộc của khu vực vào dầu nhập khẩu từ Trung Đông vẫn tiếp tục tăng: năm 2024, Trung Đông chiếm 60% dầu thô nhập khẩu, tức hơn 35% tổng nguồn cung dầu thô nếu tính cả nguồn trong nước, khoảng 45% sản phẩm dầu tinh chế của khu vực có gốc từ dầu thô Trung Đông.” Báo cáo kết luận: “Sự đứt gãy trên các thị trường nhiên liệu toàn cầu đã phơi bày những điểm dễ tổn thương mang tính cấu trúc, gắn với phụ thuộc nhập khẩu, mức đa dạng hoá hạn chế và các tuyến cung ứng tập trung”.
Ba chỗ yếu ấy, phụ thuộc nhập khẩu, ít đa dạng hoá cùng tuyến cung ứng tập trung, chính là ba việc mà kịch bản nâng dự trữ từ 15 lên 26 ngày đang xử lý. Báo cáo cũng ghi nhận một hướng ứng phó khác của chính Việt Nam:“Các đợt tăng vọt giá nhiên liệu đã thúc đẩy những nước như Việt Nam mở rộng ưu đãi cho xe điện, cho thấy vai trò của điện khí hoá trong việc cải thiện sức chống chịu”.
Về hướng ra, Fatih Birol viết rằng, các nước trong khu vực khác nhau về trình độ phát triển, cơ cấu công nghiệp, thể chế chính trị, địa lý cùng nhu cầu năng lượng, nhưng “đa dạng hoá và hợp tác khu vực mạnh hơn sẽ là trọng tâm của phản ứng”. Ông cũng dẫn một mốc của chính cơ quan mình: Năm 2025, Cơ quan Năng lượng Quốc tế mở Văn phòng Singapore, văn phòng đầu tiên ngoài trụ sở Paris trong lịch sử tổ chức này.
Nói cách khác, dự trữ xăng dầu và điện khí hoá giao thông không phải hai câu chuyện tách rời. Cả hai đều là cách hạ bớt phần nền kinh tế phải chịu rủi ro từ một tuyến cung ứng duy nhất.
Kịch bản nâng dự trữ từ 15 lên 26 ngày là một quyết định về hạ tầng chứ không phải về nguồn cung. Lịch sử ngành dầu thế giới cho thấy đó là chỗ đúng để đặt tiền.
Nhà báo Ida M. Tarbell công bố Lịch sử Công ty Standard Oil năm 1904, sau nhiều năm điều tra. Cuốn sách là một trong những tác phẩm điều tra kinh tế có sức nặng nhất của báo chí thế giới. Nó dựng lại đúng một cơ chế: quyền lực trong ngành dầu không thuộc về người khoan được nhiều dầu nhất mà thuộc về người kiểm soát đường vận chuyển.
Tarbell tổng kết bước ngoặt ấy bằng một câu ngắn về John D. Rockefeller: ông “khởi đầu chỉ định trở thành nhà lọc dầu duy nhất của nước Mỹ, nhưng để đạt mục đích ấy ông buộc phải tự biến mình thành nhà vận chuyển dầu”. Kết quả, theo bà, là tới cuối năm ấy toàn bộ hệ thống đường ống của Vùng Dầu nằm trong tay Rockefeller. Bà viết tiếp rằng “trên thực tế không một thùng dầu nào tới được đường sắt mà không có sự đồng ý của ông”.
Chính Rockefeller cũng nói ra điều đó. Tarbell dẫn lời ông: “Toàn bộ ngành kinh doanh dầu phụ thuộc vào hệ thống đường ống này. Không có nó thì mọi giếng dầu sẽ phải đóng cửa và mọi thị trường nước ngoài sẽ đóng lại với chúng ta”.
Việt Nam ở vị thế khác hẳn Standard Oil. Bài này không so sánh hai chủ thể. Cái dùng lại được là vị trí của chỗ hiểm. Với một nước nhập ròng xăng dầu, ba lớp quyết định an ninh nhiên liệu đều nằm ngoài khâu khai thác: tuyến vận chuyển đường biển, mà kỳ này đã bàn qua eo Hormuz; hệ thống kho chứa trong nước; và số ngày dự trữ. Đó chính là ba lớp mà kịch bản “4 tuần cộng 2” đang xử lý.
Đọc theo cách ấy thì con số 26 ngày không còn là một chỉ tiêu hành chính. Nó là số ngày mà nền kinh tế còn chạy được khi lớp thứ nhất bị cắt. Cùng logic ấy giải thích vì sao chương trình E10 và tỷ lệ tự chủ ethanol 25% lại nằm chung một hồ sơ với dự trữ: cả hai đều là cách hạ bớt phần nền kinh tế treo vào một tuyến cung ứng duy nhất.
Câu chuyện dự trữ nhiên liệu của Việt Nam đầu năm 2026 diễn ra giữa một năm mà nhiều nền kinh tế lớn cũng phải mở kho.
Theo chuỗi số liệu tuần của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, lượng dầu thô trong kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược của nước này đứng ở mức 415,4 triệu thùng vào ngày 27/3/2026, rồi giảm liên tục từ tháng 4 xuống còn 293,4 triệu thùng vào ngày 14/8/2026. Tức trong khoảng năm tháng, kho dự trữ chiến lược của Hoa Kỳ đã rút ra khoảng 122 triệu thùng, tương đương giảm 29,4%. Bối cảnh của đợt rút ấy được Cơ quan Năng lượng Quốc tế ghi lại trong bản cập nhật giữa năm: xung đột tại Trung Đông khiến thế giới tạm mất gần 20% nguồn cung khí hoá lỏng, đẩy giá khí ở cả châu Á và châu Âu lên mức cao nhất kể từ giai đoạn 2022.
Hai con số này rất dễ so nhầm, nên phải xem kỹ chuẩn trước khi đặt chúng cạnh nhau. Chuẩn 90 ngày mà giới năng lượng hay nhắc là điều kiện dành cho các nước thành viên Cơ quan Năng lượng Quốc tế, tính theo dầu thô nhập khẩu ròng và do Nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền nắm giữ. Việt Nam không phải thành viên tổ chức này nên không chịu ràng buộc đó. Con số khoảng 26 ngày mà Bộ trưởng nêu tại tổ Quốc hội là số ngày dự trữ theo cách tính trong nước, bao gồm cả xăng dầu thành phẩm. Hai con số vì thế không đặt lên cùng một bàn cân được. Bài này không quy đổi chúng cho nhau.
Điều rút ra được lại không nằm ở phép so. Nó nằm ở chỗ khác: một kho dự trữ chiến lược chỉ có giá trị khi được nạp đủ trước lúc cần và được dùng đúng lúc phải dùng. Diễn biến năm 2026 cho thấy các cú sốc nguồn cung không còn là kịch bản giả định. Đó là lập luận thực tế nhất cho yêu cầu xây dựng chiến lược quốc gia về dự trữ nhiên liệu dài hạn mà Bộ Chính trị đã giao.
Xăng E10 được triển khai toàn quốc từ ngày 1/6/2026 theo Thông tư 50/2025/TT-BCT. Tới ngày 4/6/2026, gần 99% cửa hàng cả nước đã bán E10 theo báo cáo của Bộ Công Thương và sau 4 ngày, hơn 141 triệu lít E10 đã được bán trên tổng 151 triệu lít xăng các loại. Tới hết ngày 8/6/2026, tổng tiêu thụ xăng sinh học đạt khoảng 310,6 triệu lít gồm 290,5 triệu lít E10 và 20,1 triệu lít E5; cả nước có trên 17.000 cửa hàng bán lẻ và tất cả cửa hàng có kinh doanh xăng đã chuyển sang nhiên liệu sinh học.
Bức tranh cả tháng do Bộ Công Thương công bố: từ ngày 1 tới 28/6/2026, cả nước tiêu thụ khoảng 980 triệu lít xăng sinh học, trong đó E10 khoảng 924 triệu lít, chiếm 94,29%, E5 khoảng 56 triệu lít; còn 1.585 cửa hàng duy trì bán E5 để phục vụ nhóm khách hàng chưa chuyển đổi, được đăng trên ứng dụng tra cứu “Quanh tôi” của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Báo cáo một tháng triển khai xăng E10, Bộ Công Thương, 2/7/2026). Tại họp báo thường kỳ quý II ngày 7/7/2026, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Nguyễn Thúy Hiền cho biết E10 RON95-III chiếm khoảng 94 tới 95% sản lượng tiêu thụ xăng và được điều hành giá cùng E5 RON92 theo Nghị quyết 29/2026/NQ-CP về thí điểm chính sách trong lộ trình E10.
Phản ứng của người dùng đi xuống nhanh: từ ngày 1 tới 29/6, Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia tiếp nhận 293 phản ánh của người dân về E10 qua Tổng đài 1800.6838 và hộp thư điện tử, gồm 11 phản ánh qua tổng đài và 282 qua thư điện tử; riêng tuần 6 tới 11/6 là 248 phản ánh, tới tuần 19 tới 25/6 chỉ còn 9. Về giá, kỳ điều hành 25/6/2026 đưa E10 RON95-III xuống không cao hơn 19.916 đồng/lít, dầu diesel 21.866 đồng/lít; tới kỳ 23/7/2026, E10 RON95-III lên 21.435 đồng/lít, dầu diesel 25.768 đồng/lít, liên Bộ chi Quỹ bình ổn 1.000 đồng/lít với xăng sinh học và 1.500 đồng/lít với diesel.
Lớp phòng thủ thứ ba lộ ra điểm yếu rõ nhất. Bộ Công Thương công bố qua Báo điện tử Chính phủ ngày 1/6/2026 rằng cả nước tiêu thụ khoảng 1 triệu m3 xăng mỗi tháng, để pha E10 cần 100.000 tới 110.000 m3 ethanol nhiên liệu (E100) mỗi tháng, trong khi sản xuất trong nước mới khoảng 25.000 m3/tháng, tức tự chủ khoảng 25%. Số liệu tháng 6/2026 xác nhận điều đó. Theo Báo cáo một tháng triển khai xăng E10 của Bộ Công Thương ngày 2/7/2026, tổng nguồn E100 phục vụ pha chế, phối trộn trong tháng 6 đạt khoảng 121.895 m3, gồm 89.383 m3 nhập khẩu và 32.512 m3 mua trong nước, tức nhập khẩu chiếm 73,3%; sang tháng 7 tỷ trọng nhập dự kiến gần 79%. Ba nhà máy đang cung ứng E100 (Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai, Nhiên liệu sinh học Dung Quất) có tổng công suất thiết kế 23.300 tấn/tháng nhưng vận hành thực tế 15.666 tấn/tháng, bằng 67,2%; riêng Nhiên liệu sinh học Dung Quất có công suất thiết kế 8.300 tấn/tháng khi chạy hết 100%.
Ở khâu phối trộn, tới 30/5/2026 có 13 trên 26 thương nhân đầu mối đã đầu tư trạm phối trộn với tổng năng lực khoảng 1,1 triệu m3/tháng, riêng Petrolimex 455.000 m3/tháng. Đặt cạnh nhau, ba con số 70% (tự chủ lọc dầu), 25% (tự chủ ethanol) và khoảng 14% (mức tự chủ tăng thêm nếu dùng E10 toàn quốc, theo Bộ trưởng nêu ngày 10/4/2026) cho thấy E10 mới giải được bài toán thay thế một phần xăng khoáng, chưa giải được bài toán nguyên liệu.
Tại họp báo quý II ngày 7/7/2026, bà Nguyễn Thúy Hiền cho biết, dự thảo Nghị định thay thế các nghị định về kinh doanh xăng dầu đã qua 4 lần lấy ý kiến thành viên Chính phủ, được hoàn thiện ngày 1/7 theo hướng cắt giảm thủ tục, giảm khâu trung gian, tái cơ cấu đầu mối để trình Chính phủ trong tháng 7; điểm mới được báo giới nêu là trao quyền quyết định giá bán lẻ cho thương nhân. Yêu cầu tái cơ cấu hệ thống phân phối xăng dầu cũng nằm trong chỉ đạo của Thủ tướng Lê Minh Hưng khi làm việc với Bộ ngày 22/4/2026, cùng yêu cầu ngành Công Thương chịu trách nhiệm không để thiếu điện, xăng dầu.
Định nghĩa an ninh năng lượng cũng đã được nói rõ. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh “an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ nguồn cung điện mà còn phải duy trì vận hành hệ thống an toàn, liên tục trong các tình huống cực đoan; đồng thời giá năng lượng phải phù hợp với khả năng chi trả của người dân và doanh nghiệp, không gây tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô”. Vế sau của câu ấy chính là chỗ dự trữ xăng dầu và điều hành giá gặp nhau.
Ngày 10/4/2026 tại tổ Quốc hội, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu mục tiêu số một là bảo đảm an ninh năng lượng trên ba trụ cột: đủ nguồn cung, tổ chức phân phối không đứt gãy và bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân.
Về mặt bằng giá chung, chỉ số giá tiêu dùng bảy tháng năm 2026 tăng 4,39% so với cùng kỳ, riêng tháng 7 giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ; lạm phát cơ bản tăng 4,19% (Cục Thống kê, báo cáo tháng 7 và 7 tháng năm 2026).
Mọi so sánh về dự trữ xăng dầu đều dễ trượt vào một phép so sai: đem số ngày dự trữ của Việt Nam đặt cạnh số ngày của những nền kinh tế có quy mô, có hạ tầng kho cảng và có nguồn lực tài chính khác hẳn. Có một cách đặt vấn đề khác. Cách ấy đã được nói rõ từ bảy thế kỷ trước.
Đại Việt sử ký toàn thư chép lại buổi vua Trần Anh Tông tới nhà thăm Hưng Đạo Vương lúc ông ốm nặng, hỏi kế sách nếu giặc phương Bắc lại sang. Trần Hưng Đạo không trả lời bằng một công thức. Ông điểm lại ba thời kỳ khác nhau với ba cách đánh khác nhau, mỗi cách hợp với thế của thời ấy, rồi mới rút ra nguyên tắc: “Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp”.
Nguyên tắc ấy không nói rằng bên yếu hơn thì buông. Nó nói rằng bên có cấu trúc khác thì phải chọn cách bố trí hợp với cấu trúc của mình, chứ không sao chép cách bố trí của bên kia. Đặt vào bài toán dự trữ, câu hỏi đúng không phải là bao giờ Việt Nam đạt 90 ngày như mức khuyến nghị của các nước công nghiệp phát triển. Câu hỏi đúng là với một nền kinh tế nhập ròng phần lớn dầu thô, có hai nhà máy lọc dầu trong nước, có bờ biển dài với nhiều cảng nước sâu và có nhu cầu tăng nhanh, thì cấu hình dự trữ nào cho mức bảo hiểm cao nhất trên mỗi đồng bỏ ra. Kịch bản bốn tuần cộng hai nêu ở trên là một câu trả lời cho đúng câu hỏi ấy, chứ không phải một mức thấp hơn chuẩn quốc tế.
Đây là phép loại suy, không phải luận cứ. Trần Hưng Đạo bàn về cách bố trí lực lượng trong một cuộc chiến tranh giữ nước, không bàn tới dự trữ nhiên liệu, cũng không bàn tới quan hệ kinh tế. Việt Nam hôm nay nhập khẩu xăng dầu trong quan hệ thương mại bình thường với nhiều đối tác. Phần mượn lại ở đây chỉ là một nguyên tắc chọn cách làm, không kèm hàm ý nào về quan hệ với các đối tác ấy.
Vế thứ hai của việc dựng kho không nằm ở số ngày mà nằm ở chất lượng vận hành. Đây là chỗ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú nói một câu ngắn mà đúng tới tận hôm nay. Bàn về phép quốc dụng, ông viết: “Việc cất chứa trong kho tàng, cốt sao cho để lâu không nát”.
Với xăng dầu, “để lâu không nát” là một yêu cầu kỹ thuật có thật, không phải một hình ảnh văn chương. Xăng có thời hạn bảo quản, chỉ số octan giảm dần, phần nhẹ bay hơi. Xăng pha ethanol như E10 còn thêm một ràng buộc nữa là khả năng hút ẩm và tách pha, tức chính loại nhiên liệu đang phủ gần 99% cửa hàng theo số nêu ở trên lại là loại khó giữ lâu hơn xăng khoáng. Một kho dự trữ quốc gia vì thế không phải một bể chứa đầy rồi để đó. Nó là một dòng luân chuyển có kỷ luật, nhập vào và xuất ra theo chu kỳ, giữ mức tồn không đổi trong khi hàng bên trong liên tục được thay. Chi phí luân chuyển ấy phải nằm trong bài toán ngay từ khi tính mức 26 ngày, chứ không phát sinh sau.
Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Công Thương, gửi Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tháng 8/2026, đã gọi tên chuyển dịch mà cả bài này đang bàn bằng một câu ngắn: Việt Nam đang trải qua sự chuyển dịch lớn từ một quốc gia xuất khẩu ròng sang vị thế nhập khẩu ròng năng lượng, còn sự phụ thuộc ấy thì đang gia tăng.
Báo cáo bóc mức phụ thuộc ra ba khía cạnh, cả ba đều chạm thẳng vào bài toán dự trữ.
Thứ nhấtlà than cho nhiệt điện. Theo báo cáo, nguồn than khai thác nội địa đã đạt tới giới hạn và chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện trong nước, nên mỗi năm phải nhập hàng chục triệu tấn, chủ yếu từ Indonesia và Australia. Con số 35,53 triệu tấn than tiêu thụ cho sản xuất điện trong 5 tháng đầu năm nêu ở Kỳ 5 vì thế có một phần đáng kể là than nhập.
Thứ hailà dầu và khí. Báo cáo ghi rằng sản lượng khai thác dầu thô nội địa đang trong đà suy giảm, nên hai nhà máy Nghi Sơn và Dung Quất vẫn phải nhập lượng lớn dầu thô để duy trì công suất, bên cạnh việc nhập xăng dầu thành phẩm. Với khí hoá lỏng thì báo cáo nói thẳng hơn nữa: các mỏ khí nội địa đang suy giảm sản lượng, nên toàn bộ lượng khí hoá lỏng cho điện sẽ phải nhập khẩu 100%, đặt ra thách thức về hạ tầng kho cảng, hợp đồng mua bán dài hạn và rủi ro nhập khẩu lạm phát khi giá thế giới neo cao.
Thứ balà điện mua ngoài. Việt Nam duy trì và mở rộng chủ trương mua điện từ các nước láng giềng, chủ yếu từ Lào và một phần từ Trung Quốc. Phần điện mua ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu nguồn, nhưng theo báo cáo nó giữ vai trò chiến lược trong chạy nền và giảm căng thẳng cung ứng ngắn hạn, nhất là cho miền Bắc mùa khô.
Đây là câu đáng đặt cạnh con số 26 ngày dự trữ: mức độ phụ thuộc nhập khẩu cao làm giảm khả năng tự chủ năng lượng quốc gia, gây áp lực lên cán cân thanh toán ngoại tệ và khiến nền kinh tế dễ chịu tác động kép từ cú sốc địa chính trị hay đứt gãy chuỗi cung ứng. Trọng tâm thời gian tới được nêu là tăng khả năng tự chủ nguồn cung trong nước, đa dạng hoá thị trường cùng đối tác nhập khẩu.
Về quy mô nền, báo cáo cho biết năm 2025 tổng cung năng lượng sơ cấp ước đạt 118,6 triệu tấn quy dầu, tăng 10,4% so với năm 2024, bình quân tăng 4,7% mỗi năm giai đoạn 2021 tới 2025, thấp hơn mức 6,4% mỗi năm của giai đoạn 2011 tới 2020.
An ninh xăng dầu là một cấu phần của an ninh năng lượng. Văn bản chuyên đề ở tầm Bộ Chính trị đặt cho cấu phần ấy một con số cao hơn hẳn mọi mốc mà bài này đang bàn. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nêu mục tiêu cụ thể đến năm 2030: “các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước; mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng”.
Đặt cạnh kịch bản nâng dự trữ từ 15 lên 26 ngày mà bài đã dẫn, khoảng cách là 64 ngày. Đó là khoảng cách giữa mức điều hành trước mắt với mục tiêu chiến lược. Khoảng cách ấy cho biết vì sao phần cơ chế để Nhà nước đầu tư kho lại là nút thắt chứ không phải chuyện phụ. Nghị quyết giao “xây dựng và triển khai chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia”, đầu tư hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu, khí đốt và than “cả trên đất liền và trên biển”.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đặt an ninh năng lượng cạnh an ninh nguồn nước cùng an ninh lương thực trong một nhóm nhiệm vụ, đồng thời xếp năng lượng vào nhóm hạ tầng chiến lược được ưu tiên phát triển. Cách xếp ấy có hệ quả với bài toán dự trữ: kho xăng dầu không còn là chuyện riêng của ngành Công Thương mà là một hạng mục hạ tầng quốc gia, tức là có thể huy động cơ chế đầu tư của hạ tầng chiến lược thay vì chỉ trông vào vốn doanh nghiệp đầu mối.
Đó cũng chính là nút thắt mà Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam nêu ở mục trên: mục tiêu dự trữ quốc gia đã có trong quy hoạch từ năm 2023, phần còn thiếu là cơ chế để Nhà nước đầu tư kho.