Người được chọn...
Ngày 28/8/1945, ít ngày trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ lâm thời công bố thành lập Bộ Kinh tế Quốc gia (sau này là Bộ Quốc dân Kinh tế, tiền thân của Bộ Công Thương) do ông Nguyễn Mạnh Hà làm Bộ trưởng.
Bộ kinh tế đầu tiên của chính quyền cách mạng bắt đầu công việc giữa lúc nền tài chính quốc gia gần như kiệt quệ. Chính phủ tiếp quản từ Sở Ngân khố của chính quyền cũ khoảng 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó 586.000 đồng là tiền rách nát đang chờ tiêu hủy, những khoản nợ chưa thanh toán còn rất lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này đã mô tả tình thế đó bằng hình ảnh một Chính phủ vừa thành lập đã đứng trước nguy cơ gần như phá sản.
Việt Nam Dân Quốc Công Báo ngày 29/9/1945 đăng tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Khó khăn về tài chính mới là một phần của tình thế lúc bấy giờ, nạn đói vừa cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, sản xuất đình đốn, thị trường rối loạn, nhiều cơ chế quản lý kinh tế của chế độ thuộc địa vẫn còn tồn tại, chính quyền mới phải khẩn trương tổ chức lại bộ máy và giải quyết những nhu cầu cấp bách của đời sống.
Bài viết này dựng lại năm đầu hoạt động của Bộ qua các sắc lệnh, nghị định, thông cáo được ban hành sau ngày giành độc lập, qua lời kể của những người trực tiếp tham gia xây dựng bộ máy và những ghi chép đương thời.
Ông Nguyễn Mạnh Hà sinh năm 1913, tại thị xã Hưng Yên trong một gia đình Công giáo. Năm 1926, khi mới 13 tuổi ông sang Pháp học trung học rồi tiếp tục học đại học. Năm 1937, ông tốt nghiệp ngành Luật học và Chính trị tại Đại học Paris.
Sau khi về nước, ông được cử làm Thanh tra lao động tại Hải Phòng và các khu hầm mỏ. Năm 1943, giữ chức Giám đốc Kinh tế kiêm Thanh tra lao động Bắc Kỳ, trực tiếp xử lý nhiều vấn đề về sản xuất, lao động và đời sống trong những năm cuối của chế độ thuộc địa.
Kinh nghiệm quản lý là một phần trong hành trang đưa ông Nguyễn Mạnh Hà vào Chính phủ cách mạng. Một dấu ấn cũng được nhắc nhiều về ông là hoạt động cứu đói tại Hải Phòng đầu năm 1945. Khi đó, Thị trưởng Pháp ở Hải Phòng đã giao ông phụ trách tiếp tế gạo, yêu cầu tìm cách giải quyết tình trạng thiếu lương thực đang ngày càng nghiêm trọng.
Ông Nguyễn Mạnh Hà cùng nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà và một số cộng sự tổ chức các điểm phát chẩn, quán cơm bình dân để cứu đói. Trong thời gian Nhật chiếm đóng, mỗi ngày các điểm phát hơn 20.000 suất cơm và thức ăn cho người dân, góp phần cứu sống nhiều người giữa lúc nạn đói đang bao trùm nhiều tỉnh miền Bắc.
Theo hồi ức của ông Nguyễn Mạnh Hà, một người bạn luật sư từng học cùng đồng chí Võ Nguyên Giáp báo tin về cuộc gặp. Cuộc trao đổi diễn ra khá ngắn, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhắc đến kinh nghiệm của ông rồi đề nghị đảm nhận chức Bộ trưởng phụ trách về kinh tế. Sự hiện diện của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà cũng bổ sung thêm lát cắt về thành phần Chính phủ lúc bấy giờ. Vị Bộ trưởng kinh tế đầu tiên là một trí thức Công giáo được đào tạo tại Pháp và tham gia Chính phủ ngay trong những ngày đầu lập quốc.
Khoảng 1 tuần sau, trong ngày Chính phủ lâm thời ra mắt, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà có cuộc gặp đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời ông kể lại, vừa gặp, Người hỏi:"Chú đấy à, con rể Marrane đấy à, tôi đã gặp ông ấy ở Đại hội Tours!".
Câu chào gợi lại mối liên hệ đã bắt đầu từ 25 năm trước. Tại Đại hội Tours năm 1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Georges Marrane (cha vợ ông Nguyễn Mạnh Hà) cũng hoạt động trong phong trào cộng sản Pháp, sau đó trở thành nghị sĩ và nhiều năm giữ chức Thị trưởng thành phố Ivry-sur-Seine gần Paris.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà tham dự lễ cầu hồn cho các chiến sĩ và đồng bào tử nạn diễn ra vào ngày 2/11/1945 tại Nhà thờ Lớn Hà Nội.
Ai giữ nhà máy trong những ngày trống?
Trước khi bộ máy quản lý kinh tế của chính quyền mới kịp hình thành đầy đủ, ở nhiều nơi đã có những người công nhân đứng ra giữ nhà máy.
Tháng 8/1945, trong cao trào Tổng khởi nghĩa, công nhân tại nhiều thành phố, khu công nghiệp và vùng mỏ tham gia giành chính quyền, đồng thời bảo vệ nhà máy, hầm mỏ và các cơ sở sản xuất. Ở một số nơi, công nhân lập các tổ chức quản lý ngay trong xí nghiệp để giữ gìn máy móc, tài sản và duy trì hoạt động sản xuất trong những ngày chính quyền cũ tan rã, chính quyền mới vừa được thiết lập.
Tại Hà Nội, công nhân nhiều nhà máy dưới sự hướng dẫn của cán bộ Công nhân Cứu quốc tập hợp thành lực lượng tham gia cuộc khởi nghĩa ngày 19/8/1945. Ở Hải Phòng, công nhân và lực lượng tự vệ chiếm giữ một số cơ sở sản xuất rồi lập Ủy ban công xưởng và Hội Công nhân Cứu quốc. Tại các đồn điền cao su ở Nam Bộ, những tổ chức công nhân cách mạng cũng được thành lập trong những ngày cuối tháng 8.
Theo bài"Những cải cách dân chủ trong việc quản lý xí nghiệp"đăng trên Báo Nhân Dân ngày 3/9/1954, sau khi tình hình được ổn định, các ủy ban công nhân cách mạng trao lại xí nghiệp cho Chính phủ. Trong cơ chế quản lý sau đó, bên cạnh quản đốc phụ trách chuyên môn còn có ủy ban công xưởng đại diện cho công nhân tham gia quản lý, chăm lo đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa và tập hợp nguyện vọng của người lao động để đề đạt lên cấp trên.
Giành chính quyền rồi giữ lấy nhà máy. Trong những ngày chuyển giao đầy biến động, người công nhân đã góp phần bảo vệ cơ sở sản xuất, máy móc và tài sản để nhiều nhà máy không rơi vào cảnh vô chủ. Vì thế, chính quyền cách mạng tiếp nhận một nền công nghiệp đã kiệt quệ sau chiến tranh nhưng vẫn còn những cơ sở sản xuất được gìn giữ để từng bước khôi phục.
Việc đầu tiên của một bộ kinh tế
Việc đầu tiên của Bộ Quốc dân Kinh tế sau ngày độc lập, của vị Bộ trưởng 32 tuổi không phải xây dựng chính sách công nghiệp mà là giải quyết chuyện thóc gạo.
Ngày 6/9/1945, chỉ 4 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ra thông cáo về việc tiếp tế gạo cho Bắc Bộ. Văn bản viết:"Việc tiếp tế gạo cho Bắc Bộ xét ra rất cần thiết sau nạn lụt lội vừa xảy ra, nên Chính phủ đã phái một Uỷ ban vào Nam Bộ điều tra và tổ chức cách tải gạo ra Bắc. Việc ấy rất can hệ cho sự sống còn của mười triệu đồng bào nên Chính phủ hô hào quốc dân hưởng ứng và cộng tác vào việc tiếp tế về mọi phương diện. Những hội buôn hay các tư gia nào muốn tổ chức mua và vận tải gạo từ Nam ra Bắc xin mời lại Bộ Kinh tế để thương thuyết với đại biểu Chính phủ".
Bộ Quốc dân Kinh tế vừa ra đời đã chủ động tìm đến các hội buôn và tư gia có năng lực thu mua, vận chuyển lương thực, mời họ tham gia giải quyết nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến đời sống của hàng triệu người dân. Nhà nước tổ chức và điều phối nhưng đồng thời huy động nguồn lực sẵn có trong xã hội để đưa gạo ra Bắc nhanh nhất có thể. Những thương nhân có khả năng tổ chức nguồn hàng và phương tiện vận tải được mời trực tiếp tới Bộ để bàn bạc với đại diện Chính phủ
Trong tình thế nguồn lực của Nhà nước còn rất hạn hẹp, khôi phục lưu thông hàng hóa, huy động năng lực của giới kinh doanh trở thành một phần "lời giải" cho những vấn đề cấp bách sau ngày độc lập.
Hơn 1 tháng sau, ngày 9/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 48, cho phép các công ty cùng các hãng kỹ nghệ hoặc thương mại ngoại quốc đang hoạt động tại Việt Nam được tiếp tục công việc kinh doanh như cũ trong thời gian chờ ban hành đạo luật xác định địa vị pháp lý của họ. Văn bản mang chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà.
Lý do được ghi ngay trong sắc lệnh:"sự đình trễ các ngành kinh tế có phương hại cho cuộc sinh hoạt của quốc dân". Thay đổi chế độ chính trị không đồng nghĩa với làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh đang tồn tại, chính quyền cách mạng vừa duy trì những mắt xích cần thiết của nền kinh tế vừa từng bước xây dựng khuôn khổ pháp lý cùng bộ máy quản lý của một quốc gia độc lập.
Sắc lệnh số 48 ngày 9/10/1945 về việc cho phép các công ty và các hãng ngoại quốc hiện có được phép tiếp tục công việc kinh doanh.
Chuyện gạo còn được đẩy lên thành thiết chế. Ngày 28/11/, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 67 thành lập Ủy ban Tối cao tiếp tế và cứu tế gồm Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Cứu tế và Bộ trưởng Bộ Canh nông.
Ủy ban được giao nghiên cứu và thực hiện các biện pháp tăng gia sản xuất, tiếp tế và cứu tế trên phạm vi cả nước. Bài toán lương thực được đặt trong cơ chế phối hợp giữa nhiều cơ quan của Chính phủ thay vì xử lý riêng lẻ từng đợt thiếu đói.
Trước đó, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman và Tổng Giám đốc Cơ quan Cứu trợ và Phục hồi của Liên hợp quốc, UNRRA, trình bày tình trạng thiếu lương thực ở miền Bắc và đề nghị cứu trợ. Đề nghị đó không mang lại nguồn cứu trợ như mong muốn song bức thư đã cho thấy ngay trong những tháng đầu lập quốc, Chính phủ đã tìm kiếm nhiều nguồn lực để giải quyết nạn đói, cả trong nước và bên ngoài.
Dấu ấn 2/10/1945
Trong cả tuyến bài này, nếu chọn một ngày để nhìn rõ cách Bộ Quốc dân Kinh tế bắt đầu công việc của mình, tôi chọn ngày 2/10/1945.
Hôm ấy, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ký Nghị định số 8-BKT/VP, đặt bộ khung tổ chức đầu tiên của Bộ Quốc dân Kinh tế. Bản Nghị định số 8-BKT/VP hiện được lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Ngay phần mở đầu, lý do tổ chức lại Bộ được viết ngắn gọn:"Xét rằng trong chương trình kiến thiết quốc gia, Bộ Quốc dân Kinh tế cần phải tổ chức lại để đạt được mục đích cải thiện nền kinh tế nước nhà".
Nghị định quy định cơ cấu gồm 7 phòng sự vụ, 4 nha và 1 Sở Thống kê. Sở Thống kê được xác lập ngay trong cơ cấu đầu tiên của Bộ, đặt công tác thu thập và xử lý số liệu vào bộ máy quản lý kinh tế quốc gia từ rất sớm.
Điều 4 của Nghị định số 8-BKT/VP quy định Phòng ba của Bộ mang tên Phòng Kinh tế tạp san với nhiệm vụ xuất bản Việt Nam Kinh tế tạp san, ấn phẩm tiền thân của Báo Công Thương. Ngay trong bộ máy đầu tiên của Bộ Quốc dân Kinh tế, một đơn vị chuyên trách về báo chí kinh tế đã được hình thành.
Nghị định số 8-BKT/VP ngày 2/10/1945 của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, trong đó Phòng thứ ba là Phòng Kinh tế tạp san có nhiệm vụ xuất bản Việt Nam Kinh tế tập san. Bản gốc lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
Cùng ngày còn diễn ra thay đổi quan trọng khác đối với hoạt động kinh doanh của người Việt. Theo đó, thay vì phải đăng ký và xin giấy phép như dưới thời Pháp và Nhật, Chính phủ cho phép tất cả các nhà tư sản Việt Nam được quyền kinh doanh. Một câu ngắn gọn nhưng đánh dấu thay đổi lớn về môi trường kinh doanh, những ràng buộc về đăng ký và giấy phép từng hạn chế hoạt động làm ăn của người Việt được tháo bỏ.
Bởi vậy, ngày này mang nhiều ý nghĩa đối với lịch sử ngành Công Thương. Bộ máy quản lý kinh tế được định hình, quyền kinh doanh của người Việt được mở rộng, một cơ quan làm báo kinh tế cũng được đặt ngay trong cơ cấu của Bộ để thực hiện nhiệm vụ thông tin, xuất bản.
11 ngày sau đó, ngày 13/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho giới Công Thương Việt Nam. Người viết:"Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà thì giới Công Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng".
Trong bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định"Chính phủ, nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp đỡ giới thương nhân trong công cuộc kiến thiết này. Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà doanh nghiệp thịnh vượng". Đồng thời kêu gọi"giới Công Thương nỗ lực khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập công thương cứu quốc đoàn, cùng đem vốn vào làm công cuộc ích quốc lợi dân".
Gỡ ràng buộc cũ, xác lập luật chơi mới
Có một chi tiết dễ bỏ qua nếu chỉ nhìn vào mốc ngày 2/10/1945, thời điểm Nghị định số 8-BKT/VP quy định cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc dân Kinh tế được ban hành. Trước đó, Bộ đã liên tục xử lý nhiều công việc của nền kinh tế, nhiều văn bản ban hành tháo bỏ các quy định cũ đang cản trở sản xuất, lưu thông hàng hóa.
Ngày 5/9/1945, trên cơ sở tờ trình của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, Sắc lệnh số 7 do Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký đã bãi bỏ các thể lệ cũ về buôn bán và chuyên chở thóc gạo, cho phép hoạt động này được tự do trong toàn hạt Bắc Bộ. Đây là một trong những sắc lệnh kinh tế sớm nhất của chính quyền cách mạng.
Đặc biệt, qua rà soát 88 số Việt Nam Dân Quốc Công Báo đã được số hóa, chúng tôi thống kê được 35 nghị định mang ký hiệu BKT trong khoảng cuối năm 1945 đến cuối năm 1946. Đây là kết quả thống kê trực tiếp từ mục lục và ảnh số hóa Công báo, chưa phải số liệu thống kê chính thức của cơ quan lưu trữ.
Các văn bản được đối chiếu theo từng nhóm công việc cho thấy phạm vi quản lý của Bộ khi ấy trải khá rộng.
Trước hếtlà quản lý giá những vật tư và hàng hóa thiết yếu, qua đó hạn chế đầu cơ và giữ ổn định thị trường trong điều kiện nguồn cung thiếu hụt.
Thứ hailà đảm bảo lương thực, dùng công cụ hành chính để hạn chế các cơ sở thương mại, kỹ nghệ sử dụng thóc gạo làm nguyên liệu chính khi đời sống người dân còn thiếu đói.
Thứ balà tổ chức bộ máy và chuẩn bị nhân lực. Các nha, phòng, ban tiếp tục được thành lập trong năm 1946; Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ còn mở lớp huấn luyện, đào tạo nhân lực chuyên môn.
Trong tháng 9, Bộ còn ban hành văn bản bãi bỏ các quy định cũ về buôn bán và chế biến nhựa thông, nguyên liệu làm giấy, các loại hạt có dầu, da trâu bò và nguyên liệu thuộc da… Chỉ trong khoảng 2 tuần, hàng loạt biện pháp đã được triển khai để khơi thông dòng nguyên liệu và hàng hóa giữa các vùng.
Đồng thời, bắt đầu xử lý những thiết chế kinh tế do chế độ trước để lại. Ngày 28/9/1945, một hội đồng được thành lập tại Hà Nội để thanh toán các nghiệp đoàn cũ gồm nghiệp đoàn kỹ nghệ, nghiệp đoàn khoáng chất, nghiệp đoàn vận tải và nghiệp đoàn ngân hàng. Hội đồng được giao đình chỉ hoạt động của các chi nhánh miền Bắc thuộc những tổ chức này và giải quyết các công việc liên quan.
Việt Nam Dân quốc Công báo số ra ngày 6/10/1945 đăng liền 3 nghị định của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế được ký trong tháng 9.
Nghị định ngày 19/9/1945 xét tình hình kinh tế hiện thời và chiếu đề nghị của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, quyết định:
"Điều thứ 1. Kể từ ngày ký nghị định này việc buôn bán, chuyên chở vỏ gió cùng các thứ vật liệu khác dùng vào việc làm giấy được hoàn toàn tự do.
Điều thứ 2. Độc quyền mua vỏ gió của Hợp tác xã tiểu công nghệ làm giấy nay bị bãi bỏ"
2 ngày sau, ngày 21/9/1945, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ký Nghị định số 2-BKT/VP, bãi bỏ nghị định ngày 11/11/1943 của chính quyền Pháp về mua bán, chuyên chở và tiêu thụ các loại gỗ. Lý do những quy định cũ đã cản trở việc mua bán, tiêu thụ gỗ và làm cho hoạt động này đình trệ.
Ngày 26/9, 1 nghị định khác tiếp tục bãi bỏ các quy định ấn định kích thước tiêu chuẩn đối với ván gỗ xẻ, cho phép việc xẻ gỗ được tự do trong phạm vi cả nước. Vỏ gió làm giấy, gỗ, kích thước ván xẻ… là những nguyên liệu của sản xuất, đời sống, song chính những thứ tưởng nhỏ đó đã cho thấy cách Bộ Quốc dân Kinh tế bắt đầu công việc, không chờ một chương trình kinh tế lớn mới hành động mà chủ động tháo từng rào cản đang khiến hoạt động sản xuất bị đình trệ.
Cùng với việc khôi phục sản xuất và lưu thông hàng hóa, chính quyền cách mạng từng bước xử lý những cơ chế kinh tế do chế độ thuộc địa để lại. Những thay đổi diễn ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó,về khai khoáng,Chính phủ ban hành loạt sắc lệnh ngày 30/5/1946 để xác lập lại quyền quản lý tài nguyên. Sắc lệnh số 89 dành quyền tìm kiếm mỏ cho Chính phủ tại một khu vực nhất định. Sắc lệnh số 90 bãi bỏ các nghị định của Toàn quyền Pháp lập những khu cấm địa về khai mỏ và chuyển các khu vực này thành khu mỏ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, Nhà nước vẫn tôn trọng những quyền về mỏ đã có hợp pháp và có thể cấp quyền tìm kiếm, khai thác cho tư nhân theo những điều kiện cụ thể.
Về ngoại thương, ngày 9/11/1945, Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng ban hành Nghị định số 48-TC, bãi bỏ Sắc lệnh ngày 13/8/1941 cấm mọi hoạt động xuất nhập khẩu ở Đông Dương. Quyền kinh doanh ngoại thương được mở rộng hơn so với cơ chế trước đó, song Nhà nước vẫn duy trì những quy định về quan thuế và tạm thời cấm xuất khẩu một số mặt hàng thiết yếu như gạo, ngô, đỗ, bông, đay, vải, vàng, bạc và muối.
Cách xử lý cho thấy tự do kinh doanh không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Những rào cản cũ được tháo bỏ nhưng các mặt hàng liên quan trực tiếp đến lương thực, đời sống và nguồn lực quốc gia vẫn nằm trong phạm vi điều tiết của Nhà nước.
Ngày 20/4/1946, báo Cứu Quốc đăng thông cáo"Cấm xuất cảng thóc gạo".Văn bản giải thích rõ Chính phủ cho phép chuyên chở thóc gạo tự do trong phạm vi Việt Nam nhưng không đồng nghĩa với việc được tự do xuất khẩu thóc gạo ra nước ngoài. Trong lúc nguồn lương thực còn căng thẳng, hạt gạo tiếp tục được ưu tiên cho nhu cầu trong nước.
Về lao động,ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ Lao động ban hành Nghị định số 1 quy định thời hạn báo trước khi thải hồi công nhân. Sau đó, nhiều quy định khác tiếp tục được bổ sung về quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người làm công. Đây là những bước đầu hình thành khuôn khổ pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động trong nền kinh tế mới.
Tiếp tục hoàn thiện và tinh gọn bộ máy
Bộ máy quản lý kinh tế sau đó tiếp tục được củng cố, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 12, đặt các Nha Kinh tế Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, các Phòng Thương mại, các Sở Ngũ cốc, cơ quan tiếp tế các ngành cùng những cơ quan phụ thuộc dưới quyền điều khiển trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Kinh tế.
Phần mở đầu của sắc lệnh nêu rõ yêu cầu:"Xét Bộ Kinh tế phải có quyền hạn rộng rãi, thống nhất mạnh mẽ mới có thể điều khiển được một cách có hiệu quả việc chấn hưng kinh tế của quốc gia".
Đến ngày 6/5/1946, Sắc lệnh số 61 tiếp tục kiện toàn tổ chức Bộ Quốc dân Kinh tế. Bộ gồm Văn phòng, các Phòng Sự vụ, Ban Thanh tra, Ban Cố vấn kinh tế và 5 nha chuyên môn trực thuộc gồm Nha Thương vụ, Nha Quán chất và Mỹ nghệ, Nha Tiếp tế, Nha Kinh tế tín dụng và Nha Thống kê Việt Nam.
Qua 8 tháng sau ngày độc lập, bộ máy quản lý kinh tế từng bước được mở rộng và phân định rõ hơn. Những sắc lệnh đầu tiên tập trung tháo bỏ các ràng buộc cũ để hàng hóa lưu thông, sau đó quyền quản lý được thống nhất về Bộ và các cơ quan chuyên môn lần lượt được thiết lập.
Việt Nam Dân Quốc Công Báo ngày 12/1/1946 đăng Sắc lệnh số 78 ngày 31/12/1945 thiết lập Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết, trong đó có nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch thực hiện kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế và thảo đề án kiến thiết đưa lên Chính phủ có sự tham gia của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà.
Cùng thời gian này, Chính phủ đã bắt đầu tính những câu chuyện dài hơn trước mắt. Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78 thành lập Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết, giao nhiệm vụ nghiên cứu và dự thảo kế hoạch kiến thiết đất nước về kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội và văn hóa để trình Chính phủ. Phiên họp đầu tiên diễn ra ngày 10/1/1946.
Đất nước lúc bấy giờ vừa bước qua nạn đói, ngân khố gần như trống rỗng, chưa có đồng tiền riêng và chiến sự đã lan rộng ở Nam Bộ. Giữa những công việc cấp bách, một cơ quan chuyên nghiên cứu kế hoạch kiến thiết quốc gia được thành lập. Bộ máy kinh tế vừa phải lo chuyện gạo, hàng hóa và sản xuất trước mắt vừa bắt đầu chuẩn bị cho câu hỏi lớn hơn: nước Việt Nam độc lập sẽ xây dựng nền kinh tế của mình như thế nào?
Kiến quốc cần có nhân tài
Ngày 14/11/1945, trên báo Cứu Quốc số 91, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đặt vấn đề kiến quốc trong bài "Nhân tài và kiến quốc": "Sau 80 năm bị bọn Pháp thực dân giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là rất cao. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào con đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi".
Người nêu 4 việc đất nước"cần nhất bây giờ"theo thứ tự: Kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục. Giữa tình thế nền độc lập vừa giành được phải đối diện cùng lúc nhiều thử thách, kinh tế đã được đặt trong nhóm những nhiệm vụ cần giải quyết ngay để kiến thiết và bảo vệ đất nước.
Bài viết khép lại bằng lời kêu gọi:"Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay".
Không phải một lời kêu gọi chung chung, Chính phủ cần tài năng, cần sáng kiến và cần cả những kế hoạch rõ ràng có thể đưa vào thực hiện. Ai có khả năng thì gửi kế hoạch, Chính phủ nghiên cứu kỹ thấy khả thi thì triển khai.
Cùng đó, có một văn kiện của Bộ Quốc dân Kinh tế ít được nhắc lại nhưng phản ánh khá rõ cách Chính phủ chuẩn bị nguồn nhân lực kỹ thuật. Báo Cứu Quốc số ra ngày 4/5/1946 đăng"Bức thư của Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế gửi các anh em Việt Nam ở hải ngoại".
Ông viết:"Nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi tha thiết yêu cầu anh em Việt Nam ở hải ngoại trước khi về nước ai cũng tìm đủ mọi cách (nhờ một người hay một cơ quan nào giới thiệu) vào học việc hoặc giúp việc không công, v.v… trong các xưởng kỹ nghệ ngoại quốc để khi về có thể giúp ích ngay cho sự tổ chức kỹ nghệ nước nhà.
Anh em xin nhớ lấy chứng nhận của các xưởng đã tập việc để khi về nước, Chính phủ dễ chia công việc làm theo ngành chuyên môn và tài năng của mình.
Nhất là những sinh viên các ngành khoa học, Chính phủ mong các bạn sẽ tập sự trong những nhà máy lớn để phần chuyên môn được thêm hoàn hảo.
Tình thế kỹ nghệ nước nhà ở vào thời kỳ ấu trĩ, Chính phủ đặt hoàn toàn hi vọng vào các bạn hiện ở hải ngoại, xin các bạn cố gắng để khỏi phụ lòng trông cậy của toàn thể đồng bào.
Trong khi chờ đợi, xin các bạn nhận tấm lòng quý mến của chúng tôi".
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó mới hơn 8 tháng tuổi. Nền công nghiệp còn non yếu, nhiều cơ sở sản xuất đình trệ sau chiến tranh, vốn và thiết bị đều thiếu, đội ngũ kỹ thuật cũng rất mỏng. Trong điều kiện đó, Bộ Quốc dân Kinh tế đã sớm đặt vấn đề chuẩn bị con người cho quá trình phục hồi và phát triển kỹ nghệ.
Lời kêu gọi đã đi vào khâu tổ chức, người được vận động học nghề phải có trải nghiệm thực tế, có xác nhận của cơ sở đã làm việc và sau khi trở về sẽ được bố trí theo chuyên môn.
Hướng đi đã xuất hiện trong chương trình kinh tế của Công Thương Cứu quốc Đoàn từ tháng 10/1945. Văn kiện dành riêng một nội dung cho việc hỗ trợ Chính phủ mở mang các trường chuyên nghiệp và đưa học sinh ra nước ngoài đào tạo nhân lực chuyên môn cho ngành. Như vậy, nhiều tháng trước bức thư của Bộ trưởng Bộ Kinh tế gửi Việt kiều, giới Công Thương đã đặt vấn đề chuẩn bị đội ngũ kỹ thuật cho công cuộc kiến thiết. Nhà nước và giới kinh doanh cùng chung quan điểm muốn phát triển công nghiệp phải có người được đào tạo bài bản và thạo nghề.
Bên cạnh huy động người Việt ở nước ngoài, nguồn nhân lực còn được chuẩn bị ngay trong nước. BáoCứu Quốcngày 12/2/1946 đăng thông báo thi vào Trường Kỹ nghệ thực hành, tuyển người học nghề kỹ thuật.
Về phía Chính phủ, ngày 1/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ James Byrnes đề nghị gửi một đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Hoa Kỳ. Mục đích được nêu rõ là thiết lập quan hệ văn hóa hữu nghị với thanh niên Mỹ đồng thời giúp những người trẻ Việt Nam tiếp tục học tập về kỹ thuật, nông nghiệp và các lĩnh vực chuyên môn khác.
Đề nghị không thành hiện thực vào thời điểm đó, song có thể nhận ra hướng đi khá nhất quán ngay trong năm đầu lập quốc. Một nền kỹ nghệ muốn được gây dựng phải bắt đầu từ những người biết nghề, do đó bài toán đào tạo con người đã sớm được đặt ra như một phần của công cuộc kiến thiết kinh tế.
Mở đường cho tư nhân
Để nhìn rõ cách chính quyền cách mạng ứng xử với hoạt động kinh doanh tư nhân trong những ngày đầu lập quốc có thể nhìn vào Sắc lệnh số 91 ngày 30/5/1946. Theo sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, ông Đỗ Long Giang, một chủ mỏ ở Hà Nội được trao quyền tìm kiếm và khai thác than đá tại khu Giáp Khẩu rộng 900 ha trong thời hạn 30 năm.
Quyền kinh doanh cũng đi cùng quyền kiểm soát của Nhà nước. Chính phủ giữ quyền kiểm soát cả sản xuất và bán than, ông Đỗ Long Giang được bán sản phẩm trong nước sau khi thực hiện chương trình cung ứng than của Chính phủ, còn muốn xuất khẩu phải được phép trước. Sắc lệnh cũng quy định người khai mỏ phải tuân thủ pháp luật lao động và Chính phủ có quyền sửa đổi, bổ sung giấy phép nếu xuất hiện yêu cầu về quân sự hoặc kinh tế quốc gia.
Cùng thời gian này, một số công ty do người Việt góp vốn cũng được thành lập. Công ty Hương Việt đặt trụ sở tại phố Trần Nhật Duật, Hà Nội có vốn 500.000 đồng Đông Dương, hoạt động trong các lĩnh vực đấu thầu xây dựng, kỹ nghệ điện lực, cơ khí, hóa chất, khai thác mỏ, tài nguyên rừng, biển và xuất nhập khẩu hàng hóa. Công ty Việt Bắc đặt trụ sở tại phố Yết Kiêu, Hà Nội có vốn 300.000 đồng Đông Dương, kinh doanh vận tải hàng hóa.
Các doanh nghiệp bắt đầu hoạt động trong khoảng thời gian rất ngắn trước khi tình hình chiến sự chuyển biến nhanh chóng và cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối năm 1946, khiến nhiều hoạt động kinh doanh bị đình lại.
Sắc lệnh số 91 cùng sự ra đời của Hương Việt, Việt Bắc cho thấy trong năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kinh tế tư nhân đã được xác lập bằng pháp luật. Nhà nước mở quyền kinh doanh, cho phép tư nhân đầu tư vào một số lĩnh vực; đồng thời giữ quyền quản lý đối với tài nguyên, sản lượng, thị trường và những lợi ích liên quan đến quốc gia.
Quang cảnh buổi khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá I, ngày 2/3/1946. Trong 333 đại biểu trúng cử Quốc hội khóa I, 11% là các nhà giới Công Thương
Cùng với đó, cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bổ sung một lát cắt khác về vị trí của giới kinh doanh trong những ngày đầu lập quốc. Trong 333 đại biểu trúng cử Quốc hội khóa I, các nhà tư sản chiếm 11%. Cùng với công nhân, nông dân, trí thức, người buôn bán và nhiều thành phần xã hội khác, giới tư sản đã hiện diện trong cơ cấu đại diện rộng rãi của Quốc hội đầu tiên.
Con số gắn với sự hiện diện ngày càng rõ của giới Công Thương trong đời sống chính trị và kinh tế những ngày đầu lập quốc. Ngay trong mùa Thu năm 1945, giới Công Thương đã tập hợp trong Công Thương Cứu quốc đoàn và gia nhập Mặt trận Việt Minh. Trong thư gửi giới Công Thương ngày 13/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoan nghênh sự ra đời của tổ chức này và kêu gọi các nhà công nghiệp, thương nghiệp cùng góp vốn làm những công cuộc ích quốc lợi dân.
Trước kỳ họp Quốc hội, Công Thương Cứu quốc đoàn tiếp tục tập hợp ý kiến của giới kinh doanh. Báo Cứu Quốc ngày 22/2/1946 đăng bài"Cùng quý vị đồng bào các giới Công Thương", đề cập yêu cầu cải tổ nền kinh tế, nhất là công nghệ và thương mại, đồng thời kêu gọi giới Công Thương gửi ý kiến để các đại biểu có thêm tài liệu đưa ra nghị trường:
"Vậy chúng tôi yêu cầu đồng bào các giới Công thương có ý kiến gì về vấn đề kinh tế, xin chuyển đạt ngay cho chúng tôi, để chúng tôi thêm tài liệu đề nghị vào viện".
Cuối bài báo là tên và địa chỉ của những người tiếp nhận ý kiến. Một chi tiết nhỏ gợi lại cách những đại biểu và tổ chức giới nghề nghiệp tìm kiếm tiếng nói của người sản xuất, kinh doanh trước khi bàn các vấn đề kinh tế tại nghị trường.
"Một kỳ công của chế độ dân chủ"
Những chính sách kinh tế của năm đầu lập quốc cuối cùng phải trở lại với một câu hỏi căn bản: người dân có đủ ăn hay chưa?
Câu trả lời phần nào nằm trong sản lượng lương thực năm 1946: Vụ chiêm Bắc Bộ tăng khoảng 100.000 tấn so với năm trước, vụ mùa gieo trồng khoảng 890.000 hecta và thu được khoảng 1.155.000 tấn lúa.
"Cách mạng đã chiến thắng nạn đói. Thực là một kỳ công của chế độ dân chủ",Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố trong diễn văn kỷ niệm 1 năm Quốc khánh, ngày 2/9/1946.
Thành quả đó được tạo nên bởi loạt biện pháp được triển khai trong thời gian rất ngắn: Miễn thuế cho dân vùng bị lụt, giảm 20% thuế ruộng, yêu cầu chủ điền giảm 25% tô cho tá điền, khôi phục hoạt động mua bán trâu bò, huy động ruộng đất bỏ hoang vào sản xuất và xử lý một phần ruộng đất của Việt gian, thực dân để giao cho nông dân.
Đó là công việc của cả Chính phủ và nhiều cơ quan trong bộ máy mới, trong đó Bộ Quốc dân Kinh tế trực tiếp tham gia ở nhiều khâu liên quan đến lương thực, sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Cùng với khôi phục sản xuất là cuộc chạy đua sửa chữa đê điều. Trận lụt lớn năm 1945 làm vỡ hàng chục đoạn đê ở Bắc Bộ, sang đầu năm 1946, công việc tu bổ được đẩy nhanh, nhiều người dân góp sức sửa đê, có người làm việc mà không nhận tiền công.
1 năm trước nạn đói vẫn phủ bóng lên miền Bắc, 1 năm sau vụ mùa đã cho hơn 1 triệu tấn lúa. Giữa hai mốc là hàng loạt công việc cụ thể của một bộ máy nhà nước vừa ra đời phải đồng thời chống đói, khôi phục sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
8 tháng kể từ những nghị định tháo bỏ ràng buộc cũ trong tháng 9/1945 đến khi 5 nha chuyên môn được thành lập vào tháng 5/1946, bộ máy từng bước thành hình. Tuy nhiên dựng được bộ máy mới chỉ là bước đầu, phía trước là thử thách lớn hơn nhiều và phần lớn nằm ngoài khả năng quyết định của Bộ...>> Kỳ sau: Vị Bộ trưởng đầu tiên tự nguyện xuống… Thứ trưởng.