Thứ tư, 30/09/2026

Công nghiệp hỗ trợ: Cần cơ chế để doanh nghiệp lớn kéo doanh nghiệp nhỏ đi cùng

Để tăng sức mạnh nội sinh của công nghiệp, cần hình thành cơ chế để doanh nghiệp đầu chuỗi đặt hàng, hỗ trợ nâng cấp và tạo thị trường ổn định cho doanh nghiệp nhỏ.

Công nghiệp hỗ trợ: Cần cơ chế để doanh nghiệp lớn kéo doanh nghiệp nhỏ đi cùng

Kéo doanh nghiệp Việt vào chuỗi

Sáng 30/9, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp Bộ Công Thương, Tỉnh ủy Phú Thọ tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia"Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam".

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Phan Đăng Tuất - Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cho rằng, cần nhìn nhận lại đúng bản chất và vị trí của công nghiệp hỗ trợ trong tiến trình công nghiệp hóa. Theo ông, nếu phân chia theo chuỗi thì công nghiệp gồm khai thác, chế biến, chế tạo, hoàn thiện lắp ráp và các hoạt động hậu công nghiệp. Trong đó, phần hiện được gọi là công nghiệp hỗ trợ thực chất gắn rất chặt với công nghiệp chế tạo, lĩnh vực giữ vai trò hạt nhân của một nền công nghiệp hiện đại.

Từ cách tiếp cận này, ông cho rằng việc thống kê và hoạch định chính sách cần tách bạch rõ công nghiệp chế biến với công nghiệp chế tạo để phản ánh đúng năng lực của nền kinh tế. Nếu các nhóm ngành có bản chất rất khác nhau tiếp tục được gộp chung thì những con số thống kê có thể làm mờ đi thực trạng của khu vực chế tạo cũng như những điểm yếu cần được xử lý.

Theo PGS.TS Phan Đăng Tuất, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần quay trở lại với nền tảng cốt lõi là sức mạnh nội sinh của nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp trong nước phụ thuộc quá nhiều vào đơn hàng của các tập đoàn đa quốc gia thì vị trí trong chuỗi cung ứng sẽ thiếu bền vững. Khi các tập đoàn tìm được nhà cung cấp có chi phí thấp hơn ở một quốc gia khác, đơn hàng hoàn toàn có thể dịch chuyển. Trong bối cảnh chi phí lao động tại Việt Nam tăng lên, nguy cơ dòng sản xuất chuyển sang những thị trường như Campuchia hay Bangladesh là vấn đề cần được tính đến.

"Con đường phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cần bắt đầu từ thị trường nội địa và từ chính các doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là cách củng cố sức mạnh nội sinh trước khi hướng tới vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu", ông nhấn mạnh và cho hay, Việt Nam đã có những doanh nghiệp đầu chuỗi lớn như VinFast, THACO, Hòa Phát, Viettel cùng nhiều doanh nghiệp quy mô lớn khác. Chính sách cần tạo cơ chế để các doanh nghiệp đầu chuỗi trong nước tăng đặt hàng cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, qua đó hình thành thị trường đủ lớn để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Dẫn kinh nghiệm Hàn Quốc, PGS.TS Phan Đăng Tuất cho biết, từ những năm 1960, nước này đã có chính sách hạn chế doanh nghiệp lớn tự sản xuất một số nhóm chi tiết nhỏ, qua đó tạo dư địa cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia cung ứng. Theo ông, khoảng 1.400 chi tiết được dành cho các doanh nghiệp nhỏ sản xuất theo hình thức cung ứng cho doanh nghiệp lớn. Sau một thời gian triển khai, hàng loạt doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đã hình thành, góp phần từng bước xây dựng năng lực tự chủ cho nền công nghiệp Hàn Quốc.

Từ đó, ông đề xuất cần có khung pháp lý riêng đủ mạnh cho công nghiệp chế tạo, khi có nền tảng pháp lý phù hợp mới có thể triển khai đồng bộ các cơ chế hỗ trợ về đất đai, tài chính, công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng.

Một trụ cột khác cần được đặc biệt quan tâm là công nghiệp vật liệu, nếu chưa chủ động được vật liệu và các loại hợp kim phục vụ sản xuất thì công nghiệp chế tạo vẫn khó giảm phụ thuộc. Trong thực tế, có doanh nghiệp trong nước đủ năng lực sản xuất nhưng nhu cầu của từng đơn vị còn nhỏ và phân tán, chưa tạo được quy mô thị trường đủ lớn để tổ chức sản xuất hiệu quả.

Vì vậy, ông đề xuất Nhà nước cần đóng vai trò "bà đỡ", hỗ trợ hình thành cơ chế mua chung, xây dựng các trung tâm kiểm định, cơ sở thử nghiệm và mô hình ươm tạo doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Mục tiêu là tạo ra năng lực chế tạo và vật liệu đủ mạnh, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động hơn trong chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường trong nước và từng bước củng cố sức mạnh nội sinh của nền công nghiệp.

Chuẩn hóa dữ liệu để nhận diện đúng năng lực công nghiệp

Đề cập đến hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, GS.TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp cho rằng, chính sách cần được đo bằng năng lực sản xuất thực tế của doanh nghiệp, khả năng có đơn hàng và vị trí mà doanh nghiệp đạt được trong chuỗi giá trị. Việc được hỗ trợ mua máy móc, tham gia đào tạo hay đạt chứng nhận chưa thể coi là kết quả cuối cùng nếu năng lực sản xuất không được cải thiện và doanh nghiệp không giữ được khách hàng.

Theo ông Mạc Quốc Anh, cần phân biệt rõ giữa việc doanh nghiệp "tham gia" chuỗi cung ứng và thực sự “nâng cấp” trong chuỗi. Nâng cấp phải thể hiện ở quy trình tốt hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, năng lực kỹ thuật được cải thiện hoặc doanh nghiệp có thể đảm nhiệm thêm những công đoạn có giá trị cao hơn. Ngay cả khi sản lượng tăng hoặc trở thành nhà cung cấp cấp 1 cũng chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp giữ lại được nhiều giá trị hơn.

GS.TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp phát biểu tại hội thảo.

Từ thực tiễn, ông chỉ ra một số điểm nghẽn, đơn cử, khoảng cách giữa việc làm được sản phẩm mẫu và khả năng sản xuất ổn định. Một doanh nghiệp cơ khí có thể làm đúng bản vẽ nhưng chất lượng giữa các lô sản phẩm chưa đồng đều. Khi đó, mua thêm máy móc chưa chắc giải quyết được vấn đề mà cần chẩn đoán nguyên nhân và cải tiến ngay tại nhà máy.

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ cũng cần phù hợp với khả năng tiếp cận và sử dụng của doanh nghiệp. Các nguồn vốn phải được thiết kế theo cả quá trình, từ thiết kế, thử nghiệm, kiểm định trước đơn hàng đến vốn lưu động trong giai đoạn thực hiện và chờ thanh toán.

Ông Mạc Quốc Anh đề xuất phát triển nhà cung ứng phải bắt đầu từ nhu cầu cụ thể của bên mua. Chương trình hỗ trợ có thể kéo dài từ 12 - 24 tháng, đi từ đánh giá ban đầu, cải tiến, xác nhận kỹ thuật, đơn hàng thử nghiệm đến đơn hàng thương mại. Mỗi bước cần có tiêu chí và kết quả được kiểm chứng.

"Thước đo cuối cùng phải là doanh nghiệp sản xuất tốt hơn, giảm lỗi, giảm tiêu hao, giao hàng tốt hơn, giữ được khách hàng và có khả năng đảm nhiệm những công đoạn có giá trị cao hơn. Đó mới là cơ sở đánh giá hiệu quả chính sách và sức sống của hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ",GS.TS Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.

Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Xuân Thúy - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia tư vấn chính sách công nghiệp cho rằng, nội địa hóa và công nghiệp hỗ trợ cần được nhìn nhận như những thước đo phản ánh năng lực thực chất của nền công nghiệp. Vấn đề không nằm ở việc đạt tỷ lệ phần trăm bao nhiêu mà phải trả lời được sản xuất cái gì, tạo ra bao nhiêu giá trị trong nước, doanh nghiệp Việt Nam tham gia đến đâu trong chuỗi cung ứng và đã làm chủ được những năng lực công nghệ nào.

Theo bà Thúy, tỷ lệ nội địa hóa hiện nay mới phản ánh một phần bức tranh. Cùng đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% nhưng mức độ đóng góp vào năng lực công nghiệp có thể rất khác nhau. Một sản phẩm có thể đạt tỷ lệ này chủ yếu từ khâu lắp ráp và các linh kiện đơn giản trong khi một sản phẩm khác tạo giá trị từ vật liệu, linh kiện kỹ thuật, thiết kế hoặc những công đoạn có hàm lượng công nghệ cao. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào con số tỷ lệ nội địa hóa thì chưa thể đánh giá được chiều sâu của quá trình nội địa hóa.

Bà Nguyễn Thị Xuân Thúy - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia tư vấn chính sách công nghiệp phát biểu tại hội thảo.

Cùng đó, cách tính hiện nay chưa thống nhất giữa các doanh nghiệp. Toyota công bố mẫu Innova có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất từ 37 - 40% trong khi Samsung đưa ra tỷ lệ 59% với phương pháp tính khác. Sự khác biệt này khiến các con số khó so sánh và khó sử dụng như căn cứ thống nhất cho hoạch định chính sách.

Theo bà Thúy, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở dữ liệu. Việt Nam có nhiều nguồn dữ liệu từ điều tra doanh nghiệp, thống kê, báo cáo thương mại, báo cáo chuỗi cung ứng và các chương trình hỗ trợ nhưng các nguồn này còn phân tán, thiếu kết nối và chưa đủ chi tiết để phản ánh chính xác năng lực công nghiệp hỗ trợ.

Từ thực tế đó, bà Thúy đề xuất cần xây dựng một khung đo lường nội địa hóa thống nhất và có thể theo dõi hằng năm. Đồng thời cần chuẩn hóa phạm vi thống kê công nghiệp hỗ trợ, xác định rõ hệ thống mã ngành và xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá để đo được cả kết quả thực hiện lẫn tác động của chính sách."Chỉ khi đo đúng thì mới có thể nhận diện đúng năng lực công nghiệp và thiết kế chính sách phù hợp", vị chuyên gia nhấn mạnh.

Trong những năm qua, công nghiệp hỗ trợ đã đạt một số kết quả tích cực. Số lượng doanh nghiệp tăng dần, nhất là trong chuỗi cung ứng dệt may, da giày, điện tử, cơ khí và ô tô. Cả nước hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chiếm khoảng 5,0% số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo và tương đương khoảng 0,74% tổng số doanh nghiệp cả nước đang hoạt động. Khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 30%.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.