Tạo động lực cho hệ sinh thái sáng tạo
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược) xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình - phát thanh và xuất bản.
Theo Chiến lược, các ngành được định hướng phát triển đồng bộ, dựa trên cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo dựng không gian, xung lực mới cho phát triển văn hóa.
Như vậy, để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ dựa vào nguồn tài nguyên văn hóa và năng lực sáng tạo truyền thống, mà còn đứng trước yêu cầu khai thác hiệu quả dữ liệu, nền tảng số và các công nghệ mới. Về vấn đề này, chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế dựa trên tài năng, bản sắc, công nghệ và mô hình kinh doanh sáng tạo. Những yếu tố ấy chỉ có thể phát huy hết tiềm năng khi được đặt trong một hệ sinh thái cởi mở, thông minh, ít rào cản, và minh bạch. Nếu thể chế chưa thông thoáng thì dù có nhân lực tốt, công nghệ mạnh, doanh nghiệp sáng tạo cũng rất khó bứt phá.
Trong những năm qua, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, chúng ta đã có nhiều nỗ lực quan trọng, nhưng môi trường thể chế cho công nghiệp văn hóa vẫn còn những khoảng trống. Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế, đặc biệt là cải cách pháp luật để phù hợp với đặc thù của nền kinh tế sáng tạo, là điều kiện tiên quyết. Cùng với thể chế, một đột phá rất quan trọng nữa chính là phát triển hạ tầng sáng tạo và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo văn hóa. Bởi, công nghiệp văn hóa hiện nay được dẫn dắt mạnh mẽ bởi công nghệ sản xuất nội dung, nền tảng kỹ thuật số và dữ liệu. Nếu chúng ta đi nhanh trong chuyển đổi số, ứng dụng AI, big data, công nghệ mô phỏng, tự động hóa sản xuất nội dung… thì hoàn toàn có thể rút ngắn khoảng cách với các quốc gia đi trước.
Theo đó, chuyển đổi số trong văn hóa là quá trình ứng dụng công nghệ số, các nền tảng số và dữ liệu số vào mọi hoạt động của ngành nhằm thay đổi căn bản phương thức tổ chức, sáng tạo, lưu hành, phổ biến và tiếp nhận các giá trị văn hóa, nghệ thuật. GS.TS Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long chỉ rõ, quá trình này đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy giá trị di sản, sáng tạo văn hóa mới và tăng khả năng tiếp cận của công chúng.
Trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, du lịch là một lĩnh vực đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm đổi mới phương thức khai thác, quảng bá các giá trị văn hóa, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của du khách. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Công Năng - Chủ tịch Công ty Wondertour cho hay, công nghệ số và AI đang làm thay đổi khá căn bản cách doanh nghiệp du lịch tìm kiếm khách hàng, thiết kế sản phẩm và tổ chức kinh doanh. Trước đây, muốn tiếp cận khách quốc tế, doanh nghiệp thường phải phụ thuộc nhiều vào các hội chợ, đại lý phân phối hoặc đối tác nước ngoài. Bây giờ, một doanh nghiệp Việt Nam có thể giới thiệu sản phẩm trực tiếp đến khách hàng ở nhiều quốc gia thông qua nền tảng số, mạng xã hội và các công cụ tiếp thị ứng dụng AI.
Từ góc độ doanh nghiệp lữ hành, theo ông Lê Công Năng, công nghệ tạo tăng cơ hội tiếp cận thị trường cho sản phẩm du lịch văn hóa. Một sản phẩm du lịch văn hóa ở Việt Nam, nếu được giới thiệu bằng nội dung hấp dẫn, có hình ảnh tốt và được truyền thông bằng nhiều ngôn ngữ, hoàn toàn có thể tiếp cận khách hàng quốc tế mà không cần đầu tư một bộ máy tiếp thị quá lớn ở nước ngoài phục vụ khách hàng nhanh hơn; tạo sản phẩm mới, theo đó, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường, bản đồ số, thuyết minh đa ngôn ngữ hay AI có thể giúp một di tích, bảo tàng, làng nghề trở nên dễ tiếp cận và hấp dẫn hơn. "Một câu chuyện lịch sử nếu chỉ trình bày trên bảng thông tin có thể khó thu hút khách, nhưng nếu được kể bằng hình ảnh, âm thanh, mô hình tương tác và nội dung phù hợp với từng nhóm tuổi thì trải nghiệm sẽ khác", ông Năng nói.
Đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, việc ứng dụng công nghệ cũng đang cho thấy cách tiếp cận mới có thể tạo thêm sức hấp dẫn cho sản phẩm văn hóa. Vở kịch xiếc "Sơn thần thủy quái" do Liên đoàn Xiếc Việt Nam thực hiện là một ví dụ tiêu biểu trong nỗ lực ứng dụng công nghệ trong ngành xiếc. Kể từ lúc bắt đầu công diễn ngày 25/9/2026 ở Hà Nội, vở kịch xiếc “Sơn thần thuỷ quái” đã tạo ra một hiện tượng hiếm có trong ngành Xiếc Việt Nam khi hơn 1.200 chỗ ngồi của sân khấu Rạp Xiếc Trung ương liên tục “kín chỗ”.
Vở kịch xiếc “Sơn Thần Thuỷ Quái” có khoảng 40 nghệ sĩ trực tiếp tham gia trên sân khấu, cùng đội ngũ kỹ thuật và hậu cần, tổng cộng hơn 60 người. Liên đoàn Xiếc Việt Nam đã cải tạo sân khấu tròn của Rạp Xiếc Trung ương thành sân khấu nước, có hệ thống phun với gần 300 ống nước và thoát nước. LumiShow, VietArt là doanh nghiệp công nghệ số sản xuất visual đồ họa và thực thi không gian nghệ thuật số, xây dựng hệ thống hình ảnh xuyên suốt chương trình.
Trong quá trình đó, các công cụ AI đồ họa được sử dụng để hỗ trợ ê-kíp phát triển ý tưởng và thử nghiệm các phương án tạo hình. Từ những hình dung ban đầu về núi rừng, biển cả, thế giới thần thoại đến các lớp hình ảnh chuyển động trên sân khấu, công nghệ giúp quá trình thử nghiệm trở nên nhanh và trực quan hơn. Những phương án phù hợp sau đó tiếp tục được chọn lọc, xử lý và kết hợp với hệ thống 3D Mapping để đáp ứng yêu cầu của kịch bản, không gian sân khấu và chuyển động của nghệ sĩ.
Góp phần mang lại sức hút cho vở kịch xiếc chính là VietArt - đơn vị phối hợp với Liên đoàn Xiếc Việt Nam ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại như 3D mapping, laser và sân khấu nước vào vở diễn. Ông Nguyễn Đức Quang, nhà sáng lập kiêm Chủ tịch VietArt chia sẻ, các suất diễn “Sơn thần thuỷ quái” thường xuyên kín chỗ, cho thấy sức hút của cách tiếp cận mới trong việc kể lại câu chuyện dân gian trên sân khấu xiếc. Việc ứng dụng công nghệ đã tạo thêm phương thức thể hiện câu chuyện dân gian trên sân khấu, kết hợp nội dung nghệ thuật với hình ảnh, ánh sáng và không gian trình diễn. Qua đó, chất liệu văn hóa truyền thống được tiếp cận bằng hình thức mới, góp phần làm phong phú trải nghiệm của khán giả.
Thời gian tới, VietAr sẽ tiếp tục phối hợp với Liên đoàn Xiếc Việt Nam để đổi mới vở diễn này, đồng thời chuẩn bị phương án cho các vở diễn tiếp theo với việc ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại.
Từ đổi mới sản phẩm đến hoàn thiện hạ tầng số
Là một trong những nghệ sĩ mang đến tác phẩm ấn tượng nhờ ứng dụng công nghệ và nghệ thuật (ArtTech) trong Triển lãm đa trải nghiệm “Điều quý giá” do Prudential Việt Nam tổ chức tại Trung tâm Nghệ thuật đương đại Vincom (VCCA), Royal City, Hà Nội, anh Lê Minh Long - sinh viên ngành Truyền thông số và Thiết kế đa phương tiện, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho hay, việc đưa công nghệ vào ngành công nghiệp văn hóa hiện đại là một xu hướng tất yếu của thời đại. Trên thế giới, phương thức này đã được áp dụng rất phổ biến, trong khi tại Việt Nam việc ứng dụng vẫn còn khá mới mẻ. Thông qua công nghệ, tác phẩm nghệ thuật không còn đơn thuần để người xem đứng từ xa ngắm nhìn hay thưởng lãm, mà khách tham quan có thể trực tiếp tương tác, tham gia vào tác phẩm như một phần của quá trình đồng sáng tạo, mang lại một làn gió mới và trải nghiệm đa giác quan cho công chúng.
Anh Lê Minh Long - sinh viên ngành Truyền thông số và Thiết kế đa phương tiện, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.
Có thể thấy công nghệ mở thêm lựa chọn trong quá trình sáng tạo và dàn dựng sản phẩm văn hóa có thể nâng tầm trải nghiệm đa dạng cho công chúng. Tuy nhiên, để những mô hình ứng dụng riêng lẻ tạo thành động lực phát triển trên quy mô ngành, cần có sự hỗ trợ đồng bộ về hạ tầng, dữ liệu, nguồn nhân lực và cơ chế quản lý. Theo anh Lê Minh Long, hiện lĩnh vực ArtTech giúp các tác phẩm dễ dàng nhận được sự quan tâm, đón nhận hào hứng từ công chúng. Tuy nhiên, việc tiếp cận và theo đuổi lĩnh vực này cũng gặp không ít khó khăn.
"Tại Việt Nam, vẫn còn ít cơ sở đào tạo bài bản, chuyên sâu và thực sự chất lượng về sự kết hợp giữa nghệ thuật và công nghệ. Vì vậy, toàn bộ kiến thức, kỹ năng sinh viên tích lũy được chủ yếu thông qua quá trình tự học, tự tìm tòi trên Internet, YouTube và các kênh đào tạo chuyên môn của nước ngoài. Sự thiếu hụt môi trường đào tạo chuyên nghiệp trong nước đang là một trong những trở ngại lớn đối với những người trẻ, nghệ sĩ trẻ mong muốn theo đuổi lĩnh vực này", anh Lê Minh Long bày tỏ.
Bên cạnh đó, để phát triển bền vững, bảo tồn các giá trị văn hóa, theo GS.TS Từ Thị Loan, chuyển đổi số phải trở thành ‘bệ phóng’ cho phát triển văn hóa, chứ không phải là ‘bức tường kỹ thuật’ cản trở hoặc làm mai một giá trị gốc”, không nên “công nghiệp hóa” văn hóa số một cách máy móc, biến các di sản, tác phẩm nghệ thuật thành những “món hàng” công nghệ thuần túy.
Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Công Năng cũng nêu quan điểm, doanh nghiệp cũng cần hiểu rằng trí tuệ nhân tạo (AI) không tự tạo ra một sản phẩm du lịch tốt nếu bản thân sản phẩm không có giá trị. AI có thể giúp quảng bá một điểm đến, nhưng không thể bù đắp cho chất lượng dịch vụ kém hoặc một trải nghiệm thiếu bản sắc."Lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này là có thể sử dụng công nghệ để rút ngắn khoảng cách về năng lực tiếp thị và quản trị với các doanh nghiệp lớn trên thế giới. Nhưng muốn tận dụng được cơ hội đó, doanh nghiệp phải đầu tư đồng thời vào dữ liệu, con người và sản phẩm", ông Năng cho hay.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã giới thiệu 17 sáng kiến Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường, mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư, nghệ sĩ và các viện/trường cùng tham gia giải quyết. Trong đó, "Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia" số hóa, chuẩn hóa và kết nối những nguồn tài nguyên văn hóa đang phân tán, tạo nguồn dữ liệu tin cậy cho nghiên cứu, giáo dục, sản xuất nội dung và phát triển trí tuệ nhân tạo về văn hóa Việt Nam. Năm 2026, hướng tới vận hành phiên bản đầu tiên và mở cổng kết nối thử nghiệm để doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo cùng khai thác.