Thứ năm, 08/10/2026

Công nghệ chiến lược và 3 bài toán lớn của ngành Công Thương

Bộ Công Thương được giao chủ trì 3 bài toán lớn cùng các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, tạo nền tảng nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Công nghệ chiến lược và 3 bài toán lớn của ngành Công Thương

Từ 3 nhiệm vụ lớn

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ: Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước.

Đồng thời, phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi.

Những định hướng trên cho thấy công nghệ chiến lược không chỉ là một nội dung ưu tiên trong phát triển khoa học, công nghệ mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Làm chủ được những công nghệ có tính nền tảng, dẫn dắt sẽ giúp Việt Nam từng bước nâng cao năng lực nội sinh, chủ động hơn trong các lĩnh vực then chốt, đồng thời tạo thêm dư địa để hình thành những ngành, sản phẩm và phương thức sản xuất mới. Đây cũng là cơ sở để khoa học, công nghệ thực sự đi sâu vào sản xuất, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và đóng góp trực tiếp hơn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở những định hướng đó, yêu cầu đặt ra là phải cụ thể hóa các mục tiêu về công nghệ chiến lược thành những nhiệm vụ, lĩnh vực ưu tiên và sản phẩm có khả năng tạo tác động rõ nét đối với nền kinh tế. Việc phân công cụ thể cho các bộ, ngành cũng góp phần tạo đầu mối triển khai, tập trung nguồn lực và thúc đẩy quá trình nghiên cứu, làm chủ, ứng dụng công nghệ chiến lược vào thực tiễn.

Ngày 6/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho 10 bộ, cơ quan trung ương thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển công nghệ chiến lược. Trong đó, Bộ Công Thương được giao chủ trì 3 nhiệm vụ lớn cùng các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược liên quan.

Nhiệm vụ thứ nhất, bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ. Thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, mục tiêu của nhiệm vụ này nhằm bảo đảm đủ, ổn định và an toàn năng lượng cho tăng trưởng cao; nâng cao năng lực tự chủ, dự trữ và điều hành hệ thống năng lượng quốc gia; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu theo hướng linh hoạt, thông minh, phát thải thấp, tích hợp hiệu quả năng lượng tái tạo và từng bước làm chủ các công nghệ then chốt.

Ở nhiệm vụ này, xác định 4 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; Công nghệ số; Công nghệ robot và tự động hóa; Công nghệ biển, đại dương và lòng đất; 7 sản phẩm công nghệ chiến lược: Nền tảng bản sao số; AI chuyên ngành; pin, ắc quy tiên tiến và hệ thống tích trữ năng lượng tích hợp (BESS); hệ thống sản xuất, lưu trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học; thiết bị điện cao áp, siêu cao áp; máy điện, động cơ điện và hệ thống truyền tải - truyền động điện hiện đại, hiệu suất cao; hệ thống thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon; thiết bị, dịch vụ và hệ thống cho biển sâu, công trình biển và năng lượng ngoài khơi; hệ thống khai thác, chế biến sâu và sản phẩm chế biến sâu từ dầu khí.

Nhiệm vụ thứ hai,tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao. Giải quyết bài toán này sẽ góp phần hình thành năng lực tự chủ trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp trọng điểm, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất - xuất khẩu chủ lực; làm chủ các khâu cốt lõi về vật liệu, thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, sản xuất thông minh và chế biến sâu; nâng tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xanh - số và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tại nhiệm vụ này có 6 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Công nghệ số; Công nghệ robot và tự động hóa; Công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; Công nghệ biển, đại dương và lòng đất; Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

10 nhóm sản phẩm chiến lược gồm: Sản phẩm công nghệ chiến lược: AI chuyên ngành; AI camera xử lý tại biên; nền tảng bản sao số; hạ tầng mạng Blockchain và hệ thống truy xuất nguồn gốc; robot di động tự hành và robot công nghiệp; hệ thống, nền tảng, giải pháp phục vụ sản xuất thông minh; vật liệu tiên tiến và vật liệu chức năng hiệu năng cao cho công nghiệp chế biến, chế tạo; hệ thống sản xuất, thu hoạch, chế biến sâu sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp và sinh khối; Hệ thống khai thác, chế biến sâu và sản phẩm chế biến sâu từ khoáng sản, dầu khí và đất hiếm; Nền tảng công nghiệp, phương tiện, thiết bị và các hệ thống tích hợp đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.

Nhiệm vụ thứ ba,hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy gồm 2 nhóm công nghệ chiến lược (công nghệ số; công nghệ robot và tự động hóa); 5 sản phẩm công nghệ chiến lược (AI chuyên ngành; AI camera xử lý tại biên; nền tảng bản sao số; hạ tầng mạng Blockchain và hệ thống truy xuất nguồn gốc; robot di động tự hành và robot công nghiệp).

Mục tiêu của bài toán nhằm hình thành năng lực điều hành thương mại quốc gia dựa trên dữ liệu thời gian thực; bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt, minh bạch, an toàn và tin cậy; giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực tuân thủ, truy xuất nguồn gốc, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam.

Đặt nền móng cho sự phát triển mới

Có thể thấy, từ 3 bài toán lớn trên, một hệ sinh thái các công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược đã được xác định, làm cơ sở để lựa chọn các doanh nghiệp hạt nhân, xây dựng các nhiệm vụ trọng điểm và huy động nguồn lực triển khai trong giai đoạn tới. Đây không chỉ là những mục tiêu phát triển của riêng ngành Công Thương mà còn là những vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Việc Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì triển khai 3 bài toán lớn cũng cho thấy sự tin tưởng vào vai trò dẫn dắt của ngành đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia. Đồng thời, đây cũng là kết quả của một quá trình nghiên cứu bài bản, khoa học, được chuẩn bị kỹ lưỡng từ thực tiễn phát triển của từng lĩnh vực, với sự tham gia của toàn ngành mà đầu mối tham mưu, điều phối là Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số. Những nền móng được đặt ra sẽ là cơ sở để ngành Công Thương bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng lớn hơn: Tự chủ hơn về năng lượng, mạnh hơn về công nghiệp và hiện đại hơn về thương mại.

Triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương đã đăng ký 6 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược năm 2026, tập trung vào 4 nhóm có nhu cầu thực tiễn rõ: Digital Twin hệ thống điện (1 nhiệm vụ); thiết bị đóng cắt trung áp - cao áp (2 nhiệm vụ); robot/AI công nghiệp (2 nhiệm vụ); vật liệu carbon nanotubes (1 nhiệm vụ).

Mới đây, Bộ Công Thương đã phê duyệt 2 nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược để tuyển chọn thực hiện gồm: “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo robot công nghiệp hai tay máy tích hợp thị giác máy tính - trí tuệ nhân tạo sử dụng trong dây chuyền lắp ráp điện tử” thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược để tuyển chọn; “Nghiên cứu phát triển phần mềm nền tảng thị giác máy tính và trí tuệ nhân tạo phục vụ sản xuất thông minh trong công nghiệp chế biến, chế tạo”.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, đại diện Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) cho biết, điểm khác biệt của công nghệ chiến lược so với các công nghệ thông thường là không chỉ tạo ra một sản phẩm mới mà còn làm thay đổi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Quốc gia nào làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có lợi thế trong kiểm soát chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị sản xuất và giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài.

Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà chuyển sang cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và khả năng tạo ra các ngành công nghiệp mới. Vì vậy, phát triển công nghệ chiến lược chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn.

Đối với Việt Nam, đây còn là cơ hội để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Nếu tận dụng tốt các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến, dữ liệu lớn hay tự động hóa, chúng ta không chỉ nâng cao năng suất mà còn từng bước tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

"3 nhiệm vụ được giao cho Bộ Công Thương phản ánh rất rõ tư duy phát triển mới, đó là gắn phát triển công nghệ chiến lược với 3 trụ cột cốt lõi của nền kinh tế: Năng lượng, sản xuất công nghiệp và thương mại. 3 nhiệm vụ này cũng tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó công nghệ là nền tảng, công nghiệp là động lực và thương mại là kênh lan tỏa giá trị" -đại diện Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương nhận định.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu, có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược; bố trí ít nhất 15% ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược; ban hành cơ chế, chính sách hợp tác công tư để nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.