Thứ bảy, 06/06/2026

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ là yêu cầu cấp thiết

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ là yêu cầu cấp thiết — Trường Đại học Kinh tế

Khoa học - công nghệ là động lực tăng trưởng mới

Sáng 5/6, tại Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội - ĐHQGHN) tổ chức Hội thảo công bố Báo cáo tư vấn chính sách thường niên 2026 với chủ đề: “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (ĐHQGHN) cho biết, năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8,02%, thuộc nhóm cao nhất khu vực châu Á; quy mô GDP ước đạt khoảng 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD.

“Đây là kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với những bất ổn kéo dài từ xung đột địa chính trị, chủ nghĩa bảo hộ thương mại, sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu cho tới những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và cuộc cạnh tranh công nghệ giữa các nền kinh tế lớn”- PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê nhấn mạnh.

Tuy nhiên, câu hỏi được PGS. TS Nguyễn Trúc Lê đặt ra là, liệu những động lực tăng trưởng truyền thống đã giúp Việt Nam đạt được những thành tựu trong gần bốn thập niên đổi mới có còn đủ sức đưa đất nước tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Hay nói cách khác, Việt Nam sẽ dựa vào đâu để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn tới?

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những giải pháp cấp thiết hiện nay.

Đó cũng là lý do Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu; là động lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Nhìn rộng ra thế giới, PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê cho rằng, những nền kinh tế thành công nhất trong nửa thế kỷ qua đều là những nền kinh tế biết đặt khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.

Cụ thể, Hoa Kỳ duy trì vị thế cường quốc kinh tế số một thế giới nhờ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu toàn cầu. Nhật Bản phục hồi sau chiến tranh bằng chiến lược công nghiệp hóa dựa trên công nghệ. Hàn Quốc từ một quốc gia nghèo tài nguyên đã vươn lên thành cường quốc công nghệ nhờ đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

“Gần đây, Trung Quốc đã trở thành trung tâm công nghệ mới của thế giới nhờ kiên trì chiến lược đầu tư cho khoa học - công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghiệp công nghệ cao”- PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê khẳng định.

Nhân lực số là "chìa khóa" của chuyển đổi

Trình bày tham luận tại hội thảo, PGS.TS. Lưu Quốc Đạt - Trường Đại học Kinh tế (ĐHQGHN) khẳng định vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số.

“Muốn duy trì tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo”- ông Lưu Quốc Đạt nhấn mạnh.

PGS.TS. Lê Trung Thành - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (ĐHQGHN) cho rằng, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được xác lập là nền tảng cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới, tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có tính kết nối, lan tỏa mạnh mẽ giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Theo đó, hoạt động nghiên cứu khoa học cần gắn chặt hơn với thực tiễn quản lý và nhu cầu của doanh nghiệp, qua đó góp phần chuyển hóa tri thức thành năng suất, công nghệ và giá trị mới cho nền kinh tế.

Có thể thấy, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, yếu tố quan trọng hàng đầu là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thực tế cho thấy, tỷ lệ nhân lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Theo PGS. TS Lưu Quốc Đạt, số nhân lực R&D (nghiên cứu và phát triển) hoặc nhà nghiên cứu trên 1.000 lao động tại Việt Nam hiện khoảng 1,8 - 2 người. Trong khi đó, con số này tại Hàn Quốc là 15 - 18 người; Trung Quốc 5 - 6 người và Thái Lan 3 - 4 người.

Bên cạnh đó, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam chỉ tương đương khoảng 0,5% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu khoảng 2,2%.

Theo các chuyên gia, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, bên cạnh việc tháo gỡ các nút thắt về vốn, dữ liệu và khung pháp lý, Việt Nam cần đặc biệt quan tâm tới bài toán nguồn nhân lực. Bởi nếu không có đội ngũ nhân lực chất lượng cao, tiến trình phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ khó trở thành hiện thực.

Hiện, Việt Nam có khoảng 1,8 - 2 nhà nghiên cứu trên 1.000 lao động, thấp hơn đáng kể so với Hàn Quốc (15 - 18 người), Trung Quốc (5 - 6 người) và Thái Lan (3 - 4 người). Tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển của Việt Nam cũng mới đạt khoảng 0,5% GDP, trong khi mức trung bình của thế giới là khoảng 2,2%. Đây được xem là một trong những nút thắt cần sớm tháo gỡ để thúc đẩy tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.