Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Nghị định gồm 9 chương, 42 điều, quy định chi tiết việc kê khai, công khai, xác minh tài sản, thu nhập; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và xử lý vi phạm liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập.
Theo Nghị định, tài sản, thu nhập phải kê khai gồm: quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản gắn liền với đất; vàng, kim cương, đá quý; tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay; cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp; tài sản số; các khoản nợ; tài sản, tài khoản ở nước ngoài và tổng thu nhập giữa hai lần kê khai. Các loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên phải kê khai.
Việc kê khai được thực hiện đối với tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Nghị định cũng quy định việc kê khai trên môi trường điện tử khi đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ.
Đáng chú ý, người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên tại cơ quan nhà nước; người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp giải quyết công việc tại doanh nghiệp nhà nước thuộc diện phải kê khai hằng năm. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng thuộc diện kê khai.
Nghị định quy định việc công khai bản kê khai bằng hình thức niêm yết tại trụ sở hoặc công khai tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thời gian niêm yết là 15 ngày và việc công khai phải hoàn thành chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ khi bàn giao bản kê khai cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.
Cuộc họp công khai bản kê khai phải có ít nhất 2/3 số người được triệu tập tham dự. Nội dung phản ánh, thắc mắc và giải trình liên quan đến bản kê khai phải được ghi vào biên bản cuộc họp.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đồng thời, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ hết hiệu lực kể từ thời điểm Nghị định mới có hiệu lực.