Thị trường Hoa Kỳ ngày càng nhiều quy định khắt khe
Hoa Kỳ là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Bên cạnh các mặt hàng truyền thống như dệt may, da giày, đồ gỗ… thì thực phẩm “made in Việt Nam” xuất hiện ngày một phổ biến tại thị trường này, không chỉ trong các kênh phân phối phục vụ người châu Á mà cả những hệ thống bán lẻ khác. Sức tiêu dùng lớn khiến Hoa Kỳ luôn là thị trường hấp dẫn, song mức độ khó khăn khi tiếp cận cũng tăng nhanh, đặc biệt trong 2-3 năm gần đây.
Phân tích về đặc điểm thị trường Hoa Kỳ, tại hội thảo, ông Đỗ Ngọc Hưng, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, đây là thị trường lớn nhưng không đồng nhất. Nhu cầu tiêu dùng, hệ thống phân phối, quy định quản lý và chi phí tiếp cận có sự khác biệt đáng kể giữa các bang, khu vực và nhóm khách hàng.
Do đó, doanh nghiệp không thể xem Hoa Kỳ như một thị trường duy nhất mà cần xác định rõ phân khúc, địa bàn, kênh phân phối và tổng chi phí để đưa sản phẩm tới người tiêu dùng.
Thực tế hàng Việt vẫn được đánh giá cao và Việt Nam tiếp tục là một nguồn cung chiến lược của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ nhưng yếu tố giá không còn là lợi thế duy nhất. Người mua ngày càng quan tâm đến khả năng giao hàng linh hoạt, tốc độ phản hồi, khả năng bổ sung hàng, sự ổn định về chất lượng và năng lực kiểm soát chuỗi cung ứng.
Với thực phẩm và hàng tiêu dùng, nhu cầu đang nghiêng về các sản phẩm tiện lợi, chế biến sâu, có thông tin rõ ràng về nguồn gốc, sức khỏe và tính bền vững. Trong khi đó, với hàng công nghiệp, nhà nhập khẩu không chỉ quan tâm giá bán mà còn đặt câu hỏi về nguồn nguyên liệu, nơi sản xuất và khả năng kiểm soát nhà cung cấp.
Ông Vũ Tú Thành, Quyền Giám đốc điều hành khu vực ASEAN kiêm Trưởng đại diện tại Việt Nam của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cho rằng, doanh nghiệp Việt cần nhìn nhận cơ hội này một cách tỉnh táo.
Quy mô nhập khẩu của Hoa Kỳ rất lớn, trong khi các tập đoàn nước này tiếp tục tìm kiếm nguồn cung mới để giảm phụ thuộc quá mức vào một thị trường và tăng khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Việt Nam có nhiều lợi thế để tham gia quá trình này nhờ năng lực sản xuất ngày càng cải thiện, vị trí địa lý thuận lợi, lực lượng lao động và kinh nghiệm xuất khẩu nhiều nhóm hàng.
Ông Vũ Tú Thành, Quyền Giám đốc điều hành khu vực ASEAN kiêm Trưởng đại diện tại Việt Nam của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN
Tuy nhiên, Hoa Kỳ đang tăng cường kiểm soát xuất xứ, chống lẩn tránh và chống chuyển tải. Hồ sơ về nguồn nguyên liệu, công đoạn sản xuất, năng lực nhà máy, định mức, hóa đơn, tờ khai và dữ liệu chuỗi cung ứng ngày càng có vai trò quan trọng. “Doanh nghiệp Việt phải chứng minh được năng lực sản xuất thực chất và giá trị gia tăng tạo ra trong nước”, ông Thành nhấn mạnh.
Bên cạnh yêu cầu về sản phẩm và xuất xứ, doanh nghiệp còn phải đối mặt với các vấn đề về dòng tiền, vốn lưu động, thuế và kế toán…
Cần một chiến lược phù hợp
Từ những thách thức đã chỉ ra, ông Trần Lịch, Giám đốc VISIA - Vườn ươm và tăng tốc khởi nghiệp tác động Việt Nam nhận định, có sản phẩm tốt là chưa đủ để thâm nhập thành công và mở rộng thị phần tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp còn cần một chiến lược phù hợp.
Nhiều doanh nghiệp Việt có năng lực sản xuất tốt nhưng vẫn quen với vị thế gia công, thường chỉ làm các chứng nhận khi khách hàng yêu cầu. Cách tiếp cận này có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội ngay từ bước đầu.
“Nếu một nhà nhập khẩu tìm đến nhưng doanh nghiệp chưa có chứng nhận cần thiết, chưa chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật hoặc chưa đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, cơ hội có thể mất trước khi hai bên bàn đến giá cả”, ông Lịch nói.
Bên cạnh việc chuẩn bị các chứng nhận cần thiết, các chuyên gia và đại diện Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng khuyến nghị, doanh nghiệp còn cần chọn đúng thị trường nhỏ trước khi nghĩ tới việc chinh phục cả nước Hoa Kỳ. Cần xác định rõ khách hàng mục tiêu, khu vực, nhà phân phối và kênh bán hàng thay vì tiếp cận thị trường một cách dàn trải.
Tìm kiếm đối tác địa phương cũng rất quan trọng. Hoa Kỳ có hệ thống cửa hàng chuyên doanh và mạng lưới phân phối rộng theo từng ngành hàng, phân khúc. Doanh nghiệp không nên chỉ tập trung vào các nền tảng thương mại điện tử lớn mà cần tiếp cận cả nhà nhập khẩu, nhà phân phối và hệ thống bán lẻ chuyên ngành.
Ngay từ đầu, doanh nghiệp nên chuẩn bị bộ hồ sơ bằng tiếng Anh một cách chuyên nghiệp. Hồ sơ không chỉ dừng ở catalogue mà cần thể hiện mã hàng, chứng nhận, nguồn nguyên liệu, địa điểm sản xuất, công suất, số lượng đặt hàng tối thiểu, thời gian giao hàng, quy trình kiểm soát chất lượng và khả năng truy xuất.
Đồng thời, tuân thủ cần trở thành một phần thường xuyên của hoạt động sản xuất. Doanh nghiệp nên xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng, quản lý danh sách nhà cung cấp, lưu trữ hóa đơn, tờ khai, định mức, dữ liệu sản xuất theo lô, hồ sơ lao động và các chứng nhận chuyên ngành. Khi phát sinh yêu cầu kiểm tra, doanh nghiệp có thể giải trình bằng dữ liệu thay vì mất nhiều thời gian tập hợp hồ sơ.
Một yêu cầu khác là tính đúng giá thành thực tế khi hàng đến Hoa Kỳ, thay vì chỉ tính giá xuất xưởng. Thuế, vận tải, bảo hiểm, lưu kho, phí ngân hàng, chi phí tuân thủ, chi phí trả hàng và các nghĩa vụ phát sinh tại từng bang đều có thể ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận.
Về dài hạn, doanh nghiệp cần chuyển dần từ gia công sang làm chủ sản phẩm, bắt đầu từ thiết kế bao bì, kiểu dáng, thương hiệu, sở hữu trí tuệ và tiến tới phát triển sản phẩm, công nghệ riêng.
Theo ông Trần Lịch, doanh nghiệp Việt không nhất thiết phải ngay lập tức tạo ra những sản phẩm công nghệ phức tạp. Việc chủ động thiết kế sản phẩm, bao bì và kiểu dáng phù hợp với thị trường Hoa Kỳ cũng có thể giúp gia tăng giá trị, nâng sức cạnh tranh và giảm sự phụ thuộc vào đơn hàng gia công.
Thị trường Hoa Kỳ vẫn còn dư địa lớn cho hàng Việt nhưng cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp không chỉ có sản phẩm tốt mà còn hiểu thị trường, chuẩn bị tốt về tuân thủ, tài chính, chuỗi cung ứng và có chiến lược tiếp cận phù hợp.