Dữ liệu truy xuất trở thành 'giấy thông hành' vào EU
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) áp dụng với doanh nghiệp lớn, ngành cà phê đang đối mặt áp lực hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc để giữ vững thị trường xuất khẩu chủ lực.
Trao đổi với Báo Công Thương, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Vĩnh Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở quy mô nguồn lực mà ở mức độ chủ động của doanh nghiệp trước xu hướng tiêu dùng xanh.“Từ nay đến năm 2030, doanh nghiệp không còn nhiều thời gian để chuẩn bị. Sản xuất xanh, tăng trưởng xanh và tiêu dùng xanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc của hầu hết các thị trường xuất khẩu”,ông Hiệp nhấn mạnh.
Theo ông Hiệp, doanh nghiệp không thể trông chờ hoàn toàn vào sự hỗ trợ của Nhà nước mà phải chủ động đầu tư hệ thống dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường. Do đó, Vĩnh Hiệp đã triển khai rà soát từng vùng trồng, từng hộ nông dân để xây dựng cơ sở dữ liệu minh bạch. Doanh nghiệp phối hợp với đơn vị tư vấn, khảo sát thực địa bằng thiết bị di động, cập nhật tọa độ và thông tin vùng trồng, đồng thời làm việc với chính quyền địa phương để xác minh các trường hợp phát sinh.“Đây là khoản đầu tư bắt buộc nếu muốn tham gia thị trường xuất khẩu. Dữ liệu truy xuất nguồn gốc không chỉ để tuân thủ mà còn là lợi thế cạnh tranh trong đàm phán với khách hàng quốc tế”, ông Hiệp nói.
Theo lãnh đạo Vĩnh Hiệp, khi doanh nghiệp có đầy đủ thông tin về nhà máy, công nghệ, vùng trồng, mã số vùng trồng và định vị, khả năng đàm phán giá với đối tác sẽ tốt hơn. Ngược lại, thiếu dữ liệu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp ở thế bị động trong chuỗi cung ứng. Dù vậy, một trong những vấn đề được doanh nghiệp đặc biệt lo ngại là tình trạng chồng lấn dữ liệu vùng nguyên liệu, hiện xuất hiện khá phổ biến tại các địa phương trồng cà phê lớn như Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Ông Thái Như Hiệp cho biết trước đây một hộ sản xuất có thể tham gia nhiều chương trình chứng nhận khác nhau mà không phát sinh nhiều vướng mắc. Tuy nhiên, khi EUDR yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chứng minh không liên quan đến mất rừng, việc một vùng nguyên liệu xuất hiện trong nhiều bộ dữ liệu sẽ trở thành rủi ro lớn.“Một hộ có 3 ha cà phê nhưng cùng lúc tham gia nhiều chương trình chứng nhận của các doanh nghiệp khác nhau. Từ một vùng trồng và một sản lượng thực tế, dữ liệu có thể bị ghi nhận trùng lặp nhiều lần”, ông Hiệp phân tích.
Điều đáng lo ngại là hiện chưa có quy định thật sự rõ ràng về trách nhiệm khi xảy ra sai sót trong dữ liệu. Nếu một lô đất và một sản lượng được nhiều doanh nghiệp cùng khai báo, việc xác định doanh nghiệp chịu trách nhiệm khi cơ quan nhập khẩu phát hiện vi phạm vẫn còn là khoảng trống pháp lý. Để hạn chế rủi ro, Vĩnh Hiệp đã tự bỏ kinh phí rà soát toàn bộ dữ liệu vùng nguyên liệu đang quản lý nhằm phát hiện các trường hợp trùng lặp và xác định doanh nghiệp liên quan.
Từ thực tế này, ông Hiệp đề xuất cần sớm hình thành cơ chế quản lý và chia sẻ dữ liệu tập trung tại địa phương. Theo ông, chính quyền địa phương sẽ phù hợp hơn hiệp hội trong việc đối chiếu, rà soát và xử lý tình trạng chồng lấn giữa các doanh nghiệp.“Trước khi EUDR chính thức được thực thi, các địa phương cần tập hợp các doanh nghiệp đang xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu để cùng đối chiếu, chia sẻ và xử lý các trường hợp trùng lặp, bảo đảm tính minh bạch của hệ thống dữ liệu”, ông Hiệp kiến nghị.
Cần cơ sở dữ liệu nền để bảo vệ thương hiệu cà phê Việt
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khối lượng xuất khẩu cà phê tháng 6 năm 2026 ước đạt 150 nghìn tấn với giá trị đạt 552,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,1 triệu tấn và 4,78 tỷ USD, tăng 9,7% về khối lượng nhưng giảm 14,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.435 USD/tấn, giảm 22% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, chiếm khoảng 8,3% thị phần xuất khẩu cà phê toàn cầu, chỉ sau Brazil. Thị trường EU chiếm hơn 40% kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam, đồng thời được hưởng mức thuế 0% theo EVFTA. Theo ông Hiệp, EUDR không nên được nhìn nhận đơn thuần như một cơ hội kinh doanh mà là yêu cầu để nâng cao uy tín và thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế. Vĩnh Hiệp đang xây dựng chuỗi giá trị theo hướng “xanh” từ vùng nguyên liệu, nhà máy đến sản phẩm xuất khẩu.
Ở góc độ chính sách, ông Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách, tài chính và thương mại lâm nghiệp - Tổ chức Forest Trends, cho rằng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu không chỉ phục vụ doanh nghiệp mà còn là nền tảng quan trọng cho quản lý nhà nước.“Đối với doanh nghiệp, dữ liệu chủ yếu phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý chuỗi cung ứng. Nhưng với cơ quan quản lý nhà nước, giá trị của cơ sở dữ liệu còn lớn hơn rất nhiều vì giúp bao phủ cả những khu vực hiện chưa có thông tin đầy đủ”, ông Phúc nhận định.
Tuy nhiên, hiện nay dữ liệu vùng nguyên liệu của nhiều ngành hàng vẫn còn tồn tại khoảng trống rất lớn. Theo ông Phúc, diện tích cà phê được chứng nhận hiện mới khoảng 30% tổng diện tích, phần lớn diện tích còn lại vẫn là “vùng mù” về dữ liệu. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu cần kết hợp cả cách tiếp cận từ dưới lên và từ trên xuống. Doanh nghiệp và người dân là nguồn cung cấp dữ liệu quan trọng, nhưng Nhà nước cần đóng vai trò xây dựng hạ tầng dữ liệu nền, chuẩn hóa và xác thực thông tin.
Một rủi ro lớn hiện nay là nhiều doanh nghiệp chưa xác định được vùng nguyên liệu của mình có nằm trên đất lâm nghiệp hay không. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong thực thi quy định EUDR. Hiện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang triển khai xác định ranh giới đất lâm nghiệp tính đến năm 2020. Khi chồng xếp lớp dữ liệu này với cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu của các ngành hàng, cơ quan quản lý sẽ xác định được ngay những khu vực có nguy cơ vi phạm quy định chống mất rừng.
“Khi có dữ liệu nền thống nhất, doanh nghiệp sẽ không phải tự đi xác minh từng khu vực hay đối mặt với những rủi ro không đáng có trong quá trình thực hiện EUDR. Đây cũng là nền tảng để xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch và hiệu quả hơn”,ông Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.
Trong bối cảnh thời gian chuẩn bị cho EUDR không còn nhiều, các chuyên gia cho rằng đầu tư cho dữ liệu là khoản đầu tư bắt buộc. Minh bạch dữ liệu không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của EU mà còn là yếu tố then chốt để bảo vệ uy tín và thương hiệu của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.