Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, tăng trưởng hai con số phải dựa trên hai nền tảng quan trọng là nâng cao năng suất lao động và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa. Để tạo bước chuyển thực chất, Việt Nam cần những chính sách vi mô mang tính đột phá, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khơi thông nguồn lực để doanh nghiệp lớn lên
- Thưa ông, đâu là những nền tảng quan trọng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số?
TS. Phạm Anh Tuấn:Theo tôi, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần dựa trên hai nền tảng rất quan trọng. Thứ nhất là nâng cao năng suất lao động. Thứ hai là phát triển một hệ thống doanh nghiệp nội địa đủ mạnh, trong đó khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò hết sức quan trọng. Nếu không nâng được năng suất và không tạo được một lực lượng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thực chất, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ khó duy trì bền vững.
Thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng nhiều chính sách vẫn mang tính ngắn hạn, ứng phó tình thế, chưa xử lý đầy đủ các điểm nghẽn căn cơ. Để phát triển hệ thống doanh nghiệp, cần có các chính sách vi mô mang tính đột phá hơn, tập trung vào việc giúp doanh nghiệp lớn lên, nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tôi cho rằng, có thể nhìn hệ thống doanh nghiệp theo bốn cấp độ: doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp vừa và lớn; cuối cùng là các doanh nghiệp dẫn dắt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Mục tiêu chính sách không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp siêu nhỏ có thể lớn lên thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển thành doanh nghiệp lớn, và từ đó hình thành những doanh nghiệp đầu tàu có khả năng dẫn dắt cả hệ sinh thái.
Muốn vậy, chính sách cần hướng vào hai nhóm vấn đề then chốt.Một là,tiếp tục cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, dễ dự báo hơn. Doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để tập trung nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường, thay vì mất quá nhiều thời gian và chi phí cho các thủ tục hành chính không cần thiết.
Hai là, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí vốn và điều kiện vay vốn vẫn là rào cản lớn. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực ổn định mặt bằng lãi suất, cần phát triển thêm các kênh tài chính phù hợp như quỹ bảo lãnh tín dụng, tài chính chuỗi cung ứng, thị trường vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như các chương trình tín dụng gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Khi có nguồn lực tài chính với chi phí hợp lý, doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư dài hạn, nâng cao năng suất và đóng góp thực chất hơn cho mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế.
- Trong bối cảnh lãi suất ngân hàng cao, việc phát triển các kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển cộng đồng doanh nghiệp hiện nay, thưa ông?
TS. Phạm Anh Tuấn:Trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc khá lớn vào tín dụng ngân hàng, việc phát triển các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Một hệ thống tài chính phát triển không nên chỉ dựa vào một kênh vốn chủ yếu, mà cần có nhiều kênh khác nhau để dẫn vốn từ khu vực có nguồn lực nhàn rỗi đến khu vực có nhu cầu đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp, nếu chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, khả năng mở rộng sản xuất sẽ bị ảnh hưởng rất lớn khi lãi suất tăng, điều kiện vay vốn chặt chẽ hơn hoặc ngân hàng phải kiểm soát rủi ro tín dụng. Vì vậy, phát triển thị trường vốn, trong đó có thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, tài chính chuỗi cung ứng và các công cụ tài chính mới, sẽ giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn phù hợp với đặc điểm và giai đoạn phát triển của mình.
Trái phiếu doanh nghiệp là một kênh đáng chú ý. Nếu được phát triển lành mạnh, kênh này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch tài chính trung và dài hạn. Doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu vốn, thời điểm huy động, kỳ hạn, chi phí vốn và kế hoạch hoàn trả phù hợp với dòng tiền của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là điểm khác với tín dụng ngân hàng, vốn thường phụ thuộc nhiều hơn vào điều kiện cho vay, tài sản bảo đảm và đánh giá rủi ro từ phía ngân hàng.
Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là thị trường phải minh bạch và doanh nghiệp phát hành phải có chất lượng. Những vấn đề phát sinh trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian qua cho thấy, nếu doanh nghiệp huy động vốn nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, công bố thông tin không minh bạch hoặc sử dụng vốn sai mục đích, thì niềm tin của nhà đầu tư sẽ bị suy giảm. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, một kênh huy động vốn rất quan trọng của nền kinh tế cũng bị thu hẹp.
Do đó, vấn đề hiện nay không phải là có nên phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hay không, mà là phát triển theo cách nào để bảo đảm kỷ luật thị trường, trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành, quyền lợi của nhà đầu tư và năng lực giám sát của cơ quan quản lý. Khi các điều kiện này được củng cố, trái phiếu doanh nghiệp có thể trở thành một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng, giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư.
Bên cạnh trái phiếu doanh nghiệp, Việt Nam cũng cần từng bước phát triển các kênh vốn phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có các công cụ như quỹ bảo lãnh tín dụng, tài chính chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính và các chương trình tín dụng gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, cần phát triển hệ sinh thái quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, thị trường vốn tư nhân và các cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp.
Đối với các hình thức huy động vốn mới, chẳng hạn tài sản mã hóa hoặc các mô hình tài chính dựa trên công nghệ, đây là những hướng có thể mở ra cơ hội mới trong tương lai, nhưng cần tiếp cận thận trọng. Khung pháp lý phải bảo đảm hai mục tiêu song song: một mặt tạo điều kiện để đổi mới tài chính và huy động nguồn lực mới cho nền kinh tế; mặt khác phải kiểm soát được các rủi ro về minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư, an toàn công nghệ, phòng, chống rửa tiền và các hành vi vi phạm pháp luật.
Đưa khoa học, công nghệ thành động lực tăng trưởng
- Ông nhắc đến nhiều cải cách ở cấp độ vi mô, vậy xin ông cho biết tại sao đây được xem là chìa khóa mở ra động lực tăng trưởng mới? Đâu là những điểm nghẽn cần ưu tiên tháo gỡ?
TS. Phạm Anh Tuấn:Cải cách ở cấp độ vi mô được xem là chìa khóa mở ra động lực tăng trưởng mới vì đây là cấp độ tác động trực tiếp đến doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động và các thị trường cụ thể. Nếu chính sách vĩ mô tạo nền tảng ổn định chung, thì chính sách vi mô quyết định nguồn lực có được phân bổ hiệu quả hay không, doanh nghiệp có thuận lợi để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không.
Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Điều này có nghĩa là để hướng tới tăng trưởng cao và bền vững, chúng ta phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phát triển mạnh hơn, lớn hơn và có năng lực cạnh tranh cao hơn. Chính sách vi mô vì vậy trước hết phải hướng vào tháo gỡ những rào cản đang làm doanh nghiệp khó lớn lên.
Một động lực rất quan trọng khác là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng khoa học, công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được doanh nghiệp ứng dụng, thương mại hóa thành sản phẩm, dịch vụ và được thị trường chấp nhận. Công nghệ không thể chỉ dừng lại ở nghiên cứu hay phát minh trong phòng thí nghiệm. Nó phải đi vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra năng suất cao hơn, sản phẩm tốt hơn và mô hình kinh doanh hiệu quả hơn.
Trong quá trình này, doanh nghiệp tư nhân trong nước cần giữ vai trò trung tâm. Khi doanh nghiệp thương mại hóa thành công sản phẩm công nghệ, họ sẽ có thêm nguồn lực để tiếp tục đầu tư, nâng cấp công nghệ, cải thiện quản trị và đổi mới sáng tạo ở trình độ cao hơn. Đó phải là một quá trình tích lũy và phát triển liên tục. Việt Nam không thể chỉ trông chờ vào doanh nghiệp nước ngoài để xây dựng năng lực công nghệ nội sinh của nền kinh tế, bởi doanh nghiệp nước ngoài trước hết hoạt động theo chiến lược và lợi ích của họ.
Về các điểm nghẽn cần ưu tiên tháo gỡ, tôi cho rằng cần phân biệt giữa điểm nghẽn ngắn hạn và điểm nghẽn dài hạn. Trong ngắn hạn, cần tập trung xử lý những rào cản đang trực tiếp cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết là cải cách thể chế, giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính minh bạch, ổn định, dễ dự báo của môi trường kinh doanh. Doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để dành nhiều nguồn lực hơn cho sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường, thay vì mất quá nhiều thời gian cho các thủ tục không cần thiết.
Cùng với đó là khơi thông các nguồn lực căn bản như vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất, lao động có kỹ năng và hạ tầng phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp không thể mở rộng sản xuất nếu thiếu vốn, không có mặt bằng, không tiếp cận được đất đai, nhà xưởng hoặc không tìm được lao động phù hợp. Đây là những điểm nghẽn rất cụ thể mà chính sách cần ưu tiên tháo gỡ.
Trong dài hạn, vấn đề căn bản hơn là phải giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực nội tại. Muốn doanh nghiệp khỏe mạnh, chúng ta phải xây dựng đầy đủ các nền tảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, năng lực quản trị, năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần tồn tại, mà phải lớn lên, chuyên nghiệp hơn, có khả năng đổi mới, có thương hiệu, có sản phẩm riêng và có thể cạnh tranh ở thị trường khu vực, quốc tế.
Mục tiêu chính sách không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp siêu nhỏ lớn lên thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn.
- Nếu phải lựa chọn một cải cách có khả năng tạo ra bước ngoặt cho tăng trưởng của Việt Nam trong 5 năm tới, ông sẽ ưu tiên lĩnh vực nào?
TS. Phạm Anh Tuấn:Nếu phải lựa chọn một cải cách có khả năng tạo ra bước ngoặt cho tăng trưởng của Việt Nam trong 5 năm tới, tôi cho rằng ưu tiên hàng đầu phải là thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số một cách thực chất.
Đây không chỉ là một lĩnh vực chính sách riêng biệt, mà là động lực xuyên suốt để nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong giai đoạn trước, Việt Nam có thể tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ, mở rộng sản xuất và hội nhập quốc tế. Nhưng trong giai đoạn tới, nếu muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững hơn, chúng ta phải tạo ra giá trị mới dựa trên công nghệ, dữ liệu, tri thức, năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số giúp nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn. Ở cấp độ doanh nghiệp, nó giúp rút ngắn quy trình sản xuất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện quản trị, mở rộng thị trường và tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Ở cấp độ Nhà nước, chuyển đổi số giúp cải thiện chất lượng điều hành, giảm thủ tục, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công. Ở cấp độ người lao động, công nghệ và kỹ năng số giúp nâng cao năng suất, mở rộng cơ hội việc làm và thích ứng tốt hơn với sự thay đổi của thị trường lao động.
Tuy nhiên, điểm quan trọng là cải cách này phải đi vào thực chất. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa thủ tục hay ứng dụng một vài phần mềm, mà phải làm thay đổi cách thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ. Đổi mới sáng tạo cũng không chỉ dừng ở nghiên cứu, mà phải được thương mại hóa, được doanh nghiệp ứng dụng và được thị trường chấp nhận.
Vì vậy, trong 5 năm tới, nếu Việt Nam xây dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng và thương mại hóa công nghệ, còn các viện nghiên cứu, trường đại học và người lao động cùng tham gia vào quá trình tạo ra tri thức mới, thì đây sẽ là cải cách có khả năng tạo ra bước ngoặt lớn nhất cho tăng trưởng. Khi năng suất lao động được cải thiện, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng lên và khu vực kinh tế tư nhân đổi mới mạnh mẽ hơn, nền kinh tế sẽ có nền tảng vững chắc hơn để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao trong dài hạn.
- Xin cảm ơn ông!
TS. Phạm Anh Tuấn: Mục tiêu chính sách không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp siêu nhỏ lớn lên thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn, từ đó hình thành những doanh nghiệp đầu tàu có khả năng dẫn dắt cả hệ sinh thái.