Chia sẻ tạiHội thảo "Chu kỳ tăng trưởng mới - Cơ hội từ phân hóa và chất lượng tăng trưởng",theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, trong bối cảnh lạm phát, lãi suất, giá năng lượng, rủi ro địa chính trị và yêu cầu xanh hóa - số hóa cùng gia tăng, doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào chính sách hỗ trợ, mà phải chủ động đổi mới mô hình quản trị, đa dạng hóa thị trường, chuỗi cung ứng và nguồn vốn để đủ sức đi cùng chu kỳ tăng trưởng mới.
Kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh hơn về mô hình tăng trưởng. Thay vì dựa nhiều vào vốn và lao động, động lực trong giai đoạn tới cần dịch chuyển sang năng suất các nhân tố tổng hợp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng và thể chế. Đây cũng là điều kiện quan trọng nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bền vững và bao trùm.
Các diễn giả tại hội thảo “Thị trường chứng khoán 2026: Chu kỳ tăng trưởng mới - Cơ hội từ phân hóa và chất lượng tăng trưởng”

Điểm đáng chú ý là mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 được đặt ở mức rất cao. Một số chỉ tiêu được nêu ra gồm tăng trưởng GDP bình quân từ 9 - 10%/năm, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 28 - 30% GDP, vốn đầu tư toàn xã hội tương đương 38 - 40% GDP, đóng góp của TFP vào tăng trưởng đạt 51 - 55% và tỷ trọng đầu tư xanh trong đầu tư toàn xã hội tăng lên 12 - 13%.
Trong ngắn hạn, nền kinh tế vẫn có nhiều điểm sáng. Dự báo của Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV cho thấy tăng trưởng GDP năm 2026 theo kịch bản cơ sở có thể đạt 9 - 9,2%; trong kịch bản tiêu cực, mức tăng còn khoảng 8 - 8,5%. Các động lực chính đến từ sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, tiêu dùng, FDI và đầu tư công. Riêng kế hoạch giải ngân đầu tư công năm 2026 khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 31% so với kế hoạch năm 2025, trong khi giải ngân 4 tháng đầu năm đạt 187.100 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, điểm nhấn của bức tranh 2026 không chỉ nằm ở con số tăng trưởng, mà ở khả năng giữ ổn định vĩ mô trong bối cảnh áp lực bên ngoài gia tăng. Kinh tế thế giới được dự báo giảm đà tăng trưởng trong giai đoạn 2026 - 2027; lạm phát toàn cầu có nguy cơ tăng trở lại, lãi suất giảm chậm, thương mại tăng chậm và rủi ro địa chính trị phức tạp hơn. Đây là những yếu tố có thể tác động tới xuất khẩu, FDI, tỷ giá, chi phí vốn và chi phí đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam.
Một rủi ro được nhấn mạnh là tác động từ chiến sự tại Iran/Trung Đông. Theo kịch bản cơ sở, giá dầu bình quân năm 2026 có thể ở mức 85 - 87 USD/thùng, cao hơn 23 - 25% so với bình quân năm 2025; lạm phát có thể tăng thêm 0,4 - 0,6 điểm phần trăm và tăng trưởng GDP có thể giảm 0,6 - 0,8 điểm phần trăm so với mục tiêu. Ở kịch bản tiêu cực hơn, tác động tới tăng trưởng, lạm phát, xuất khẩu và FDI sẽ lớn hơn đáng kể.
Điều này đặt ra yêu cầu chính sách phải linh hoạt hơn. TS. Cấn Văn Lực cho rằng trong giai đoạn tới, chính sách tài khóa cần giữ vai trò chủ lực, trong khi chính sách tiền tệ mang tính bổ trợ. Trọng tâm là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, giữ mặt trận xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, bình ổn giá xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời tiếp tục kiểm soát lạm phát, tỷ giá và mặt bằng lãi suất.
Với thị trường chứng khoán, thông điệp đáng chú ý không phải là cơ hội thiếu vắng, mà là cơ hội sẽ đi kèm yêu cầu chọn lọc cao hơn. Các giải pháp được đề xuất cho Bộ Tài chính và UBCKNN gồm hoàn thiện pháp lý cho tài sản mã hóa, sửa đổi Luật Chứng khoán, sớm vận hành trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM và Đà Nẵng, thúc đẩy nâng hạng thị trường, phát triển nhà đầu tư tổ chức, thị trường quỹ và thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp, áp lực không chỉ đến từ biến động bên ngoài mà còn từ yêu cầu chuyển đổi bên trong. Doanh nghiệp được khuyến nghị tận dụng chính sách hỗ trợ về thuế, phí, lãi suất; tiết giảm chi phí; đa dạng hóa thị trường, đối tác, chuỗi cung ứng và nguồn vốn; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ESG và quản trị rủi ro tỷ giá, lãi suất, chuỗi cung ứng.
Nhìn tổng thể, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn có nhiều động lực để duy trì đà tăng trưởng cao, nhưng dư địa thuận lợi không còn dễ dàng như giai đoạn trước. Bài toán lớn không chỉ là đạt mục tiêu tăng trưởng, mà là tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, khu vực tư nhân, đầu tư công hiệu quả và thị trường vốn phát triển sâu hơn.
Với nhà đầu tư chứng khoán, đây là giai đoạn cơ hội vẫn nhiều, nhưng sẽ nghiêng về các doanh nghiệp có năng lực thích ứng tốt, tài chính lành mạnh và hưởng lợi rõ từ các động lực tăng trưởng mới.