Tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi chưa cao
Những tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Theo số liệu từ Cục hải Quan, Bộ tài chính, 5 tháng đầu năm 2026 Việt Nam xuất khẩu sang Canada 3,342 tỷ USD; Mexico 3,549 tỷ USD; New Zealand 338 triệu USD; Nhật Bản 12 tỷ USD; Australia đạt 3,184 tỷ USD; Singapore 2,723 tỷ USD… Kim ngạch này được duy trì trong khi thị trường thế giới có nhiều biến động là thành quả nỗ lực của cả các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp.
Nhìn lại năm 2025, theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thành viên CPTPP đạt 124,5 tỷ USD, tăng 11,9% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 70,6 tỷ USD, tăng 11,5%; nhập khẩu đạt 53,8 tỷ USD, tăng 12,5%, tiếp tục giúp Việt Nam duy trì thặng dư thương mại với nhiều đối tác trong khối.
Đà tăng trưởng được ghi nhận ở hầu hết các thị trường CPTPP. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Canada tăng 18,13%, Mexico tăng 28,67% và Peru tăng 15,75%.
Những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 9,4 tỷ USD, tăng 45,9%; dệt may đạt 8 tỷ USD, tăng 6,52%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,6 tỷ USD, tăng 9,8%; giày dép đạt 4,5 tỷ USD, tăng 11,8%; thủy sản đạt 3 tỷ USD, tăng 7,2%.
Ở góc độ địa phương, trong số các tỉnh, thành phố có báo cáo số liệu xuất nhập khẩu, có tới 22/27 địa phương phát sinh hoạt động xuất khẩu sang các nước CPTPP. Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên là những địa phương có quy mô thương mại lớn với khối thị trường này.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, mặc dù kim ngạch xuất khẩu và thặng dư thương mại với các nước CPTPP tiếp tục tăng, nhưng nhiều địa phương vẫn ghi nhận tỷ trọng hàng hóa sử dụng ưu đãi thuế quan còn khiêm tốn. Năm 2025, tỷ lệ sử dụng C/O CPTPP chỉ đạt 7,69%, thấp hơn mức 8,84% của năm 2024.
Gỡ điểm nghẽn về xuất xứ để tận dụng ưu đãi
Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tỷ lệ tận dụng C/O CPTPP còn thấp nằm ở quy tắc xuất xứ tương đối khắt khe của hiệp định.
Lấy dẫn chứng từ ngành dệt may, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Chuyên gia về hội nhập, nguyên Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập (Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam) cho rằng, với ngành dệt may, mức độ tận dụng ưu đãi giữa các hiệp định thương mại tự do (FTA) có sự khác biệt rất lớn do quy tắc xuất xứ của từng hiệp định. "Đối với CPTPP, quy tắc xuất xứ là 'từ sợi trở đi', đây là quy định rất khắt khe, do vậy, tỷ lệ tận dụng ưu đãi cũng thấp hơn", bà Trang nhận định.
Theo bà, việc đàm phán nới lỏng quy tắc xuất xứ hiện gần như không còn khả thi. Giải pháp lâu dài là doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi chuỗi cung ứng nguyên liệu phù hợp với yêu cầu của hiệp định, đồng thời Việt Nam cần phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, các khu công nghiệp dệt - nhuộm và vùng nguyên liệu để tạo nền tảng đáp ứng quy tắc xuất xứ.
Bà Trang cũng cho rằng nếu phát triển tốt công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam không chỉ nâng tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan mà còn giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trong nước, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đồng thời tăng khả năng chống chịu trước các yêu cầu ngày càng chặt chẽ về xuất xứ và chuỗi cung ứng trên thị trường quốc tế. Điều này không chỉ hiệu quả với ngành dệt may mà còn đúng với nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như: Điện tử và linh kiện, da giày, điện thoại và linh kiện…
Ở góc độ thực thi, ông Nguyễn Minh Khôi, Giám đốc Tư vấn của Viện Tony Blair tại Việt Nam, cho rằng nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn tâm lý e ngại trước cơ chế tự chứng nhận xuất xứ do chưa hiểu đầy đủ quy trình và trách nhiệm pháp lý.
Theo ông, đây là xu hướng tất yếu trong thương mại quốc tế khi doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về các thông tin mình khai báo, tương tự như việc đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững, môi trường, lao động hay chống phá rừng.
"Cần phải tăng cường công tác hỗ trợ về nâng cao nhận thức, cũng như các hiệp hội tăng cường trao đổi để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu, có được nhận thức đúng và vượt qua bỡ ngỡ ban đầu", ông Khôi cho hay.
Theo ông Khôi, để tận dụng hiệu quả hơn các C/O ưu đãi, doanh nghiệp cần tập trung vào hai giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng. Đây không chỉ là công cụ đáp ứng quy tắc xuất xứ của các FTA mà còn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động sản xuất, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu về môi trường, lao động và phát triển bền vững.
Thứ hai, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, không chỉ trong cùng ngành mà còn giữa nhiều ngành khác nhau như logistics, chứng nhận, môi trường hay năng lượng. Theo ông, trong bối cảnh các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng toàn diện, một sản phẩm muốn chinh phục thị trường xuất khẩu phải bảo đảm tính bền vững trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, sản xuất đến vận chuyển.
Việc nâng cao tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí và gia tăng sức cạnh tranh, mà còn góp phần khai thác hiệu quả hơn các cam kết của hiệp định, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.