Thứ ba, 04/08/2026

Sửa đổi Luật Dầu khí để củng cố chuỗi cung ứng năng lượng quốc gia

Đại biểu Quốc hội cho rằng, việc sửa đổi Luật dầu khí sẽ góp phần củng cố chuỗi cung ứng trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam làm chủ các khâu chiến lược.

Sửa đổi Luật Dầu khí để củng cố chuỗi cung ứng năng lượng quốc gia — Quốc hội

Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đang được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI nhằm nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn; tăng cường phân cấp, phân quyền; tạo cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên dầu khí. Đồng thời từng bước mở rộng không gian phát triển của ngành dầu khí gắn với dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính.

Liên quan đến dự thảo luật, bên lề Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi phỏng vấn với TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Đoàn Hưng Yên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam.

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình (Hưng Yên) phát biểu, đóng góp ý kiến về Luật Dầu khí (sửa đổi) tại Phiên họp toàn thể lần thứ 3 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính.

Chuyển đổi tư duy từ khai thác sang phát triển chuỗi giá trị dầu khí - năng lượng

- Thưa bà, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế năng lượng. Theo bà, đâu là những điểm đột phá quan trọng nhất có thể tạo chuyển biến thực chất cho ngành dầu khí trong giai đoạn tới?

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình:Theo tôi, điểm đột phá trước hết là dự thảo đã mở rộng tư duy từ khai thác tài nguyên sang phát triển chuỗi giá trị dầu khí - năng lượng. Bên cạnh hoạt động dầu khí truyền thống, dự thảo bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao, thu giữ và lưu trữ các-bon (CCS), công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí. Đây là hướng đi cần thiết để phát huy đồng thời tài nguyên, hạ tầng, dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực mà ngành dầu khí đã tích lũy trong nhiều thập niên.

Điểm mới thứ hai là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa quy trình quyết định. Với một lĩnh vực có vốn lớn, rủi ro cao, thời gian triển khai dài và phụ thuộc mạnh vào thị trường, việc giao thẩm quyền phù hợp hơn cho cơ quan quản lý nhà nước và làm rõ vai trò của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là cần thiết.

Điểm thứ ba là hoàn thiện chính sách đối với các lô, mỏ nước sâu, xa bờ, có địa chất phức tạp, mỏ nhỏ, mỏ cận biên và khai thác tận thu. Khi trữ lượng dễ khai thác ngày càng hạn chế, chính sách phải đủ linh hoạt theo mức độ rủi ro và hiệu quả của từng dự án, nhưng vẫn minh bạch và bảo đảm lợi ích quốc gia.

- Một mục tiêu quan trọng của dự thảo Luật sửa đổi đó là tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tư nhân trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Bà đánh giá như thế nào về khả năng tạo dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và đủ sức hấp dẫn của dự thảo Luật đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước?

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình:Dự thảo đã thể hiện định hướng cải thiện môi trường đầu tư thông qua đơn giản hóa thủ tục, tăng phân cấp, bổ sung cơ chế cho dự án rủi ro cao và mở rộng chuỗi giá trị dầu khí. Tuy nhiên, nhà đầu tư không chỉ nhìn vào mức ưu đãi mà đánh giá toàn bộ “vòng đời pháp lý” của dự án, thường kéo dài hàng chục năm.

Vì vậy, cần bảo đảm bốn điều kiện: giữ tính ổn định của hợp đồng dầu khí và tôn trọng quyền, nghĩa vụ hợp pháp đã được xác lập; thiết kế chính sách tài chính, thuế và ưu đãi minh bạch, có thể tính toán trước, phù hợp với mức độ rủi ro của từng loại mỏ; quy định rõ đầu mối, trình tự, thời hạn và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan; đồng thời xác lập các nguyên tắc về tiếp cận hạ tầng, thông tin và dữ liệu dầu khí, bao gồm quyền, nghĩa vụ, bảo mật, an toàn, chi phí và giải quyết bất đồng.

Nói ngắn gọn, ưu đãi có thể tạo sự quan tâm ban đầu, nhưng sự minh bạch, ổn định và khả năng dự báo mới quyết định dòng vốn dài hạn.

Củng cố chuỗi cung ứng trong nước, giúp doanh nghiệp làm chủ công nghệ

- Trong bối cảnh bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, bà nhìn nhận vai trò của Luật Dầu khí (sửa đổi) như thế nào trong việc nâng cao năng lực tự chủ năng lượng và khai thác hiệu quả tài nguyên dầu khí?

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình:Dầu khí vẫn giữ vai trò đặc biệt đối với an ninh năng lượng quốc gia, không chỉ cho phát điện mà còn cho giao thông, công nghiệp, hóa dầu, phân bón và nhiều chuỗi sản xuất thiết yếu. Chuyển dịch năng lượng vì thế không có nghĩa là giảm vai trò của dầu khí một cách cơ học, mà là khai thác nguồn lực này hiệu quả hơn, sạch hơn và theo lộ trình phù hợp.

Luật sửa đổi cần tạo động lực cho điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và gia tăng trữ lượng; khuyến khích công nghệ nâng cao hệ số thu hồi, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, khai thác tận thu và kết nối các phát hiện mới với hạ tầng hiện hữu. Đồng thời, Luật phải góp phần củng cố chuỗi cung ứng trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam làm chủ các khâu chiến lược, tiếp nhận công nghệ và duy trì năng lực cung ứng khi thị trường biến động.

Hoạt động dầu khí ngoài khơi còn gắn với việc thực thi, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Vì vậy, thu hút đầu tư và phân cấp phải luôn được đặt trong tổng thể lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an toàn công trình và bảo vệ môi trường biển.

Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) sáng 3/8.

- Dự thảo Luật đặt ra yêu cầu tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước nhưng đồng thời phải tháo gỡ các điểm nghẽn thủ tục cho doanh nghiệp. Theo bà, cần lưu ý những vấn đề gì để vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ vừa tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh dầu khí?

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình:Theo tôi, cần chuyển từ quản lý bằng nhiều tầng phê duyệt sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, thời hạn, trách nhiệm và giám sát rủi ro. Quản lý chặt chẽ không đồng nghĩa với kéo dài thủ tục; thủ tục thiếu rõ ràng còn có thể làm phân tán trách nhiệm và giảm hiệu lực quản lý.

Dự thảo cần phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Công Thương, các bộ, ngành và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam; tách bạch chức năng quản lý nhà nước, đại diện chủ sở hữu và sản xuất kinh doanh. Phân cấp phải gắn với tiêu chí ra quyết định, thời hạn xử lý, công khai quy trình và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, cần số hóa, liên thông và tái sử dụng dữ liệu, tăng hậu kiểm theo mức độ rủi ro thay cho các thủ tục tiền kiểm mang tính hình thức.

Đối với CCS, dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao, sử dụng chung hạ tầng, dữ liệu dầu khí và công trình năng lượng ngoài khơi, Luật cần quy định “khung cứng” về phạm vi, nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ, an toàn, bảo mật và lợi ích của Nhà nước; còn hồ sơ, trình tự, chi phí, vận hành và phối hợp liên ngành có thể giao Chính phủ quy định chi tiết. Các nghị định phải được chuẩn bị đồng thời và có hiệu lực cùng thời điểm với Luật để doanh nghiệp không phải tiếp tục chờ cơ chế thực hiện.

- Với vai trò Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, bà kỳ vọng gì vào tác động của Luật Dầu khí (sửa đổi) đối với sự phát triển dài hạn của ngành năng lượng, đặc biệt là việc kết nối dầu khí với các mục tiêu chuyển đổi năng lượng và phát triển bền vững của đất nước?

ĐBQH Nguyễn Thị Thanh Bình:Tôi kỳ vọng Luật sửa đổi sẽ tạo nền tảng pháp lý dài hạn để ngành dầu khí phát triển hiện đại, hiệu quả và trở thành một bộ phận chủ động của quá trình chuyển dịch năng lượng.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, khí thiên nhiên vẫn có vai trò quan trọng đối với độ linh hoạt của hệ thống điện và cung cấp nguyên, nhiên liệu cho sản xuất. Vì vậy, Luật cần thúc đẩy các dự án khí theo chuỗi đồng bộ từ thượng nguồn đến vận chuyển, chế biến và tiêu thụ; đồng thời khuyến khích nâng cao hiệu suất, giảm phát thải mê-tan và giảm đốt bỏ khí.

Cơ chế cho CCS và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí cũng là điểm rất đáng chú ý. Dữ liệu địa chất, kinh nghiệm thi công trên biển, cảng dịch vụ, phương tiện chuyên dụng và đội ngũ kỹ thuật của ngành dầu khí có thể hỗ trợ lưu trữ các-bon, điện gió ngoài khơi và các lĩnh vực năng lượng mới, qua đó giảm đầu tư trùng lặp và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.

Tuy nhiên, Luật Dầu khí chỉ nên tạo “điểm nối pháp lý” cho công trình năng lượng ngoài khơi gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí. Về lâu dài, cần hoàn thiện đồng bộ pháp luật liên quan và nghiên cứu khuôn khổ tổng thể về năng lượng tái tạo ngoài khơi khi điều kiện chín muồi.

Từ góc độ Hiệp hội, chúng tôi mong Luật tạo được ba chuyển biến: thu hút vốn và công nghệ chất lượng cao; nâng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và kết hợp hài hòa an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế biển bền vững. Chuyển dịch năng lượng không làm mất đi giá trị của ngành dầu khí; với một thể chế phù hợp, hạ tầng, năng lực và con người của ngành có thể trở thành nền tảng cho hệ sinh thái năng lượng ngoài khơi mới của Việt Nam.

- Xin cảm ơn những chia sẻ của đại biểu.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 3/8, Quốc hội sẽ thảo luận tại Tổ về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.