Thứ sáu, 25/09/2026

Quy định mới về khai thác, tận thu và thu hồi khoáng sản

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư 54/2026/TT-BCT quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản.

Quy định mới về khai thác, tận thu và thu hồi khoáng sản

Quy định cụ thể việc khảo sát, đánh giá khoáng sản nhóm IV

Ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 54/2026/TT-BCT quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản. Văn bản gồm 5 chương, 26 điều, cụ thể hóa nhiều nội dung của Luật Địa chất và khoáng sản, đồng thời cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương và tăng cường công cụ giám sát bằng công nghệ số đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản.

Ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 54/2026/TT-BCT quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản.

Thông tư quy định chi tiết một số nội dung của Luật Địa chất và khoáng sản, Nghị định số 193/2025/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan; áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân có liên quan đến các nội dung được quy định tại Thông tư.

Đối với khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản nhóm IV, Thông tư quy định tổ chức, cá nhân thực hiện khảo sát tại khu vực được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Đối với khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân trúng đấu giá thực hiện khảo sát sau khi có văn bản phê duyệt kết quả trúng đấu giá.

Tổ chức, cá nhân trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản không phải thực hiện thủ tục chấp thuận khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản nhóm IV. Trường hợp khu vực đã có kết quả thăm dò khoáng sản nhóm IV được phê duyệt, công nhận hoặc đã có kết quả khảo sát, đánh giá đáp ứng yêu cầu thì không phải thực hiện khảo sát, đánh giá lại.

Việc khảo sát có thể do tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện hoặc ký hợp đồng với tổ chức đủ điều kiện hành nghề khảo sát về địa chất, khoáng sản, thăm dò khoáng sản. Tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện khảo sát chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khảo sát, đánh giá.

Trước khi tiến hành khảo sát, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thời gian thực hiện cho cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện khảo sát. Kết quả khảo sát, đánh giá phải được cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

Về nội dung khảo sát, Thông tư quy định phải đo đạc, thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ không nhỏ hơn 1:5.000; thực hiện lộ trình địa chất với khoảng cách giữa các lộ trình tối đa 400m và mật độ điểm khảo sát tối đa từ 200 đến 300 điểm/km2. Các điểm khảo sát phải mô tả đặc điểm địa chất, thành phần, cấu tạo và xác định ranh giới các tầng sản phẩm, thân khoáng nếu có.

Nội dung khảo sát còn bao gồm khảo sát thủy văn - địa chất công trình; thu thập tài liệu và xác định lượng mưa trong 3 năm gần nhất; lấy, gia công và phân tích các loại mẫu theo quy định.

Các loại mẫu được quy định gồm mẫu rãnh, mẫu lõi khoan, mẫu sa khoáng và các loại mẫu phục vụ xác định độ ẩm, hệ số nở rời, chỉ tiêu cơ lý của đất đá và hoạt độ phóng xạ.

Mỗi công trình địa chất và mỗi lớp sản phẩm phải lấy ít nhất một mẫu; chiều dài mẫu không quá 10m. Mẫu được phân tích thành phần hóa học cơ bản; phân tích ICP 36 nguyên tố đối với ít nhất 10% số mẫu phân tích hóa cơ bản; phân tích thành phần khoáng vật và các chỉ tiêu vật lý, cơ học theo yêu cầu. Việc phân tích còn bao gồm độ ẩm, hệ số nở rời và hoạt độ phóng xạ.

Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật Địa chất và khoáng sản, nội dung khảo sát gồm đo đạc, thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ không nhỏ hơn 1:5.000; thi công ít nhất một công trình địa chất tại vị trí đại diện; lấy, gia công và phân tích mẫu để xác định thành phần các nguyên tố có ích, có hại và hoạt độ phóng xạ.

Thông tư quy định việc xác định khối lượng khoáng sản thực hiện trên cơ sở các phương pháp tính trữ lượng, tài nguyên phù hợp; đơn vị tính thể tích là m3.

Đối với việc chấp thuận khảo sát tại khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Thông tư quy định tiêu chí lựa chọn, thành phần hồ sơ, trình tự tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến cơ quan liên quan và thời hạn giải quyết.

Quy định kiểm soát sản lượng, dữ liệu và hồ sơ khai thác

Đối với hoạt động khai thác, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản phải đăng ký ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ với cơ quan có thẩm quyền cấp phép trước khi thực hiện ít nhất 15 ngày. Trường hợp thay đổi thời gian thực hiện phải đăng ký lại bằng văn bản.

Tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ, ngày bắt đầu khai thác cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định trước khi thực hiện ít nhất 7 ngày. Hồ sơ đăng ký, thông báo gồm văn bản đăng ký hoặc thông báo và giấy tờ liên quan đến khu vực thực hiện dự án theo quy định.

Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản phải lưu giữ đầy đủ hồ sơ về kết quả thăm dò bổ sung và kết quả khai thác từ khi bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ đến khi kết thúc khai thác. Bản gốc được lưu tại trụ sở; nếu trụ sở không cùng địa điểm thực hiện dự án thì phải lưu một bộ bản sao tại văn phòng mỏ.

Kết quả thăm dò bổ sung và kết quả khai thác phải được cập nhật vào bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng. Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, tổ chức, cá nhân phải cung cấp hồ sơ. Việc làm giả, làm sai lệch hoặc chỉnh sửa hồ sơ đã lưu giữ bị xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, trừ khoáng sản nhóm IV, và khai thác tận thu khoáng sản, Thông tư quy định phải xây dựng hệ thống quản lý, kết nối, phân tích và tổng hợp dữ liệu. Dữ liệu giám sát gồm thông tin về tổ chức, cá nhân, giấy phép, thời gian và vị trí kết nối với thiết bị; dữ liệu sản lượng được lấy từ thiết bị cân, thiết bị đo đạc và sổ sách theo quy định.

Dữ liệu từ thiết bị cân, thiết bị đo đạc phải được truyền về máy chủ của cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với tần suất ít nhất một lần trong một giờ. Khi việc truyền dữ liệu bị gián đoạn, dữ liệu cũ và dữ liệu hiện tại phải được gửi đồng thời khi kết nối trở lại. Dữ liệu phải bảo đảm kịp thời, chính xác và không bị sửa chữa, làm sai lệch trước hoặc trong quá trình truyền.

Đối với khoáng sản rắn, tổ chức, cá nhân phải lập bản đồ hiện trạng và bản vẽ mặt cắt hiện trạng từ khi bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ đến khi kết thúc khai thác. Bản đồ, bản vẽ được cập nhật hằng năm đến hết ngày 31/12 và nộp cho cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản cấp tỉnh trước ngày 1/2 của năm tiếp theo.

Đối với hồ sơ đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Thông tư có hiệu lực nhưng chưa được giải quyết, không phải nộp lại theo mẫu mới. Trường hợp phải bổ sung, hoàn thiện hồ sơ thì thực hiện theo quy định của Thông tư. Hoạt động khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản nhóm IV đã được chấp thuận trước ngày Thông tư có hiệu lực nhưng chưa hoàn thành tiếp tục thực hiện theo văn bản, quyết định hoặc kế hoạch đã được phê duyệt, ban hành.

Xem chi tiết văn bản tại đây.

Thông tư số 54/2026/TT-BCT quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2026.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.