Kết quả kinh doanh phân hóa, TNG nổi bật hơn TCM
Theo báo cáo ngành dệt may của Chứng khoán TP. HCM (HSC), bức tranh ngành dệt may Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 vẫn nghiêng về trạng thái phục hồi chậm. Xuất khẩu duy trì tăng trưởng dương nhưng mức tăng còn khiêm tốn và chưa lan rộng giữa các thị trường. Trong khi đó, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết tiếp tục phân hóa, với áp lực rõ hơn lên tỷ suất lợi nhuận.
Cụ thể, trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam bao gồm hàng may mặc, vải và sợi đạt khoảng 13,4 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng thấp trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường lớn vẫn chịu tác động từ bất định kinh tế vĩ mô và các yếu tố liên quan đến chính sách thương mại.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch, với giá trị xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ. EU là điểm sáng rõ hơn khi kim ngạch xuất khẩu tăng 11,1%, lên 1,48 tỷ USD. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc giảm, nhóm CPTPP không bao gồm Nhật Bản nhìn chung đi ngang, trong khi Trung Quốc ghi nhận mức tăng 11,9%.
Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của ngành dệt may chưa mang tính đồng đều. Tăng trưởng không đến từ một làn sóng cải thiện rộng của nhu cầu toàn cầu mà tập trung tại một số thị trường nhất định. Trên cơ sở đó, HSC dự báo ngành dệt may Việt Nam năm 2026 chỉ tăng trưởng khoảng 2,5%, tương ứng mức một chữ số thấp.
Sự phân hóa của thị trường xuất khẩu cũng phản ánh vào kết quả kinh doanh quý I/2026 của nhóm doanh nghiệp dệt may niêm yết. Theo HSC, tổng doanh thu thuần của các doanh nghiệp trong nhóm theo dõi đạt 11.012 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tổng lợi nhuận thuần chỉ tăng 1,6%, đạt 488 tỷ đồng.
Điều này cho thấy doanh thu vẫn có sự cải thiện, nhưng lợi nhuận không tăng tương ứng. Áp lực chi phí, giá bán bình quân và cạnh tranh đơn hàng đang khiến biên lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp thu hẹp.
Trong nhóm doanh nghiệp thuộc phạm vi khuyến nghị của HSC, TNG và TCM ghi nhận diễn biến trái chiều. TNG có quý I tích cực khi doanh thu thuần đạt 1.952 tỷ đồng, tăng 29,2% so với cùng kỳ; lợi nhuận thuần đạt 60 tỷ đồng, tăng 39,2%. Đây là kết quả quý I cao nhất trong lịch sử hoạt động của doanh nghiệp này.
Ngược lại, TCM ghi nhận doanh thu thuần gần như đi ngang ở mức 1.010 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận thuần giảm 16% xuống 66 tỷ đồng. Nguyên nhân chính đến từ việc tỷ suất lợi nhuận thu hẹp, trong bối cảnh mảng may mặc cốt lõi vẫn gặp khó tại các thị trường xuất khẩu chủ chốt.
Xét theo cơ cấu sản phẩm, doanh thu mảng may mặc của TCM trong quý I giảm 4% so với cùng kỳ, xuống 747 tỷ đồng. Đây vẫn là mảng đóng góp lớn nhất của doanh nghiệp. Trong khi đó, mảng vải tăng 17,2%, đạt 178 tỷ đồng; mảng sợi tăng 11,3%, đạt 79 tỷ đồng từ nền thấp của cùng kỳ năm trước.
Xét theo thị trường, doanh thu từ Hàn Quốc, thị trường lớn nhất của TCM, giảm 12,2% xuống 298 tỷ đồng. Doanh thu từ Nhật Bản giảm 24,7%, còn 160 tỷ đồng. Thị trường Mỹ gần như đi ngang ở mức 140 tỷ đồng. Bù lại, một số thị trường khác có diễn biến tích cực hơn, trong đó doanh thu tại Việt Nam tăng 60,9%, Canada tăng 42% và Trung Quốc tăng 18,9%.
Với TNG, HSC đánh giá doanh nghiệp vẫn duy trì được tăng trưởng nhờ lượng đơn hàng ổn định từ các khách hàng chủ chốt và năng lực vận hành tương đối vững trong bối cảnh ngành còn nhiều thách thức. Đây là cơ sở khiến HSC thể hiện quan điểm tích cực hơn đối với TNG so với TCM trong báo cáo lần này.
Chi phí đầu vào tiếp tục là biến số lớn
Dù một số doanh nghiệp vẫn ghi nhận kết quả khả quan, HSC cho rằng vấn đề cần theo dõi trong giai đoạn tới là sức ép lên biên lợi nhuận. Giá bán bình quân tiếp tục chịu áp lực do cạnh tranh gia tăng và nhu cầu của người tiêu dùng cuối còn yếu, trong khi chi phí đầu vào lại có xu hướng tăng.
Theo HSC, nguyên vật liệu thường chiếm khoảng 50-60% giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp dệt may. Vì vậy, biến động giá nguyên liệu có thể tác động trực tiếp đến tỷ suất lợi nhuận gộp. Tính đến tháng 5/2026, giá vải cotton tại Trung Quốc đã tăng lên khoảng 16.000 nhân dân tệ/tấn, tăng 13% từ đầu năm và cao hơn 21% so với bình quân năm 2025. Giá bông tại Mỹ cũng tăng mạnh từ tháng 3/2026, lên hơn 0,84 USD/pound, tăng 31% từ đầu năm và cao hơn 27% so với bình quân năm 2025.
Ngoài nguyên vật liệu, chi phí năng lượng, vận tải và lao động cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng giữ biên lợi nhuận của doanh nghiệp. HSC cho rằng một phần chi phí tăng thêm có thể được chuyển sang khách hàng, nhưng dư địa tăng giá bán vẫn hạn chế do doanh nghiệp cần duy trì đơn hàng trong bối cảnh nhu cầu chưa thực sự mạnh.
Với TCM, HSC đánh giá triển vọng ngắn hạn còn nhiều thách thức. Mảng vải có thể tiếp tục hỗ trợ doanh thu nhờ nhu cầu trong nước ổn định, nhưng mảng may mặc cốt lõi vẫn chịu sức ép tại các thị trường xuất khẩu chính. Sau khi cập nhật kết quả quý I và triển vọng mới, HSC giảm bình quân 10% dự báo lợi nhuận thuần của TCM cho giai đoạn 2026-2027.
Theo dự báo mới, doanh thu thuần của TCM năm 2026 đạt 3.724 tỷ đồng, tăng 2,2%, nhưng lợi nhuận thuần giảm 10,8% xuống 240 tỷ đồng. Năm 2027, doanh thu dự kiến đạt 3.853 tỷ đồng, tăng 3,5%, trong khi lợi nhuận thuần tiếp tục giảm 5,8% xuống 226 tỷ đồng. Đến năm 2028, lợi nhuận thuần được dự báo phục hồi 8,4%, đạt 245 tỷ đồng.
Với TNG, HSC nâng nhẹ dự báo doanh thu thuần bình quân giai đoạn 2026-2028 nhờ triển vọng đơn hàng ổn định hơn. Tuy nhiên, lợi nhuận thuần vẫn bị điều chỉnh giảm bình quân khoảng 8% do giả định thận trọng hơn về tỷ suất lợi nhuận, chi phí đầu vào, chi phí lao động và lỗ tài chính trong bối cảnh mặt bằng lãi suất tăng.
Theo dự báo mới, TNG có thể đạt doanh thu thuần 9.866 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 13,4%; lợi nhuận thuần đạt 433 tỷ đồng, tăng 10,2%. Giai đoạn 2025-2028, HSC dự báo doanh thu thuần và lợi nhuận thuần của TNG tăng trưởng kép lần lượt 8,8% và 8,7%.
Trên cơ sở đó, HSC duy trì khuyến nghị “Tăng tỷ trọng” đối với cổ phiếu TNG, với giá mục tiêu mới 23.700 đồng/cổ phiếu, giảm 10% so với mức trước đó nhưng vẫn tương ứng tiềm năng tăng giá 19,7% so với thị giá tại thời điểm báo cáo. Với TCM, HSC duy trì khuyến nghị “Nắm giữ”, đồng thời giảm giá mục tiêu 20% xuống 23.400 đồng/cổ phiếu, tương ứng tiềm năng tăng giá khoảng 2%.