Thứ ba, 22/09/2026

Phát triển điện gió ngoài khơi: Cơ hội xây dựng các ngành công nghiệp chiến lược

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có giàu tiềm năng trong phát triển điện gió ngoài khơi. Đây được xem là đòn bẩy cho tăng trưởng xanh và mở ra cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp chiến lược.

Phát triển điện gió ngoài khơi: Cơ hội xây dựng các ngành công nghiệp chiến lược

"Mỏ năng lượng" khổng lồ chờ đánh thức

Với hơn 3.200 km bờ biển, Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi hàng đầu khu vực. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, tiềm năng kỹ thuật của điện gió ngoài khơi Việt Nam có thể lên tới khoảng 512 GW. Trong khi đó, theo số liệu Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) công bố, con số này thậm chí được ước tính khoảng 1.068 GW nếu tính đầy đủ cả vùng biển xa bờ.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu khoảng 6.000 MW điện gió ngoài khơi vận hành vào năm 2030, có thể mở rộng lên 6-17 GW trong giai đoạn 2030-2035, với tầm nhìn dài hạn đạt 113.000 - 139.000 MW vào năm 2050. Trong khi đó, đánh giá của Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC) tại Việt Nam, suất đầu tư điện gió ngoài khơi tại Việt Nam hiện vào khoảng 4,3 triệu USD/MW. Ông Alessandro Antonioli, Giám đốc quốc gia Tập đoàn Copenhagen Infrastructure Partners (CIP) tại Việt Nam, đánh giá Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rõ rệt về tốc độ và chất lượng gió, đúng vào thời điểm nhiều chuỗi sản xuất toàn cầu đang dịch chuyển và tìm kiếm nguồn năng lượng sạch, ổn định, giá cả phải chăng.

Với những tiềm năng này, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, đây sẽ là cơ hội bổ sung một nguồn điện sạch rất lớn. Cùng với đó, điện gió ngoài khơi còn mở ra cơ hội hình thành cả một ngành công nghiệp phụ trợ quy mô lớn cho Việt Nam - từ khảo sát biển, thiết kế kỹ thuật, chế tạo thiết bị, đến vận hành cảng biển và logistics chuyên dụng.

GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nhận định việc phát triển nguồn điện này sẽ kéo theo nhu cầu lớn về khảo sát biển, thiết kế, chế tạo thiết bị, xây dựng hệ thống truyền tải, cảng biển và cả chuỗi cung ứng đi kèm. Cùng chia sẻ góc nhìn này, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng cần tiếp cận điện gió ngoài khơi theo hướng phát triển cả chuỗi giá trị, thay vì chỉ tập trung vào riêng các dự án phát điện.

Quy mô cơ hội này không hề nhỏ, theo tính toán chỉ riêng một dự án chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi đã có thể tạo việc làm cho gần 3.000 lao động, huy động sự tham gia của khoảng 100 doanh nghiệp trong nước trong vòng 3 năm, với doanh thu xuất khẩu có thể đạt 300-400 triệu USD.

PGS.TS Lê Quang Duyến, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cũng cho rằng, điện gió ngoài khơi cùng hệ thống lưu trữ sẽ trở thành các trụ cột mới của hệ thống năng lượng quốc gia; từ đó đề xuất xác định rõ vai trò của lưu trữ năng lượng và đầu tư đồng bộ lưới điện, cảng biển, logistics. Với dự án cấp điện trong nước, lưới truyền tải và lưu trữ tạo điều kiện đưa nguồn điện vào hệ thống ổn định. Với dự án sản xuất hydrogen, amoniac xanh, cảng biển, kho chứa và dịch vụ vận chuyển kết nối nguồn năng lượng ngoài khơi với khách hàng trong nước hoặc thị trường xuất khẩu. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, trong đó hạ tầng được xây dựng đồng bộ với toàn bộ quá trình từ sản xuất đến sử dụng và xuất khẩu. Bởi, điện gió ngoài khơi có thể cung cấp năng lượng cho các dự án sản xuất hydrogen và amoniac xanh. Các sản phẩm này phục vụ khách hàng trong nước hoặc xuất khẩu theo định hướng của Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen. Đây là đầu ra khác của nguồn điện ngoài khơi bên cạnh cấp điện lên lưới và xuất khẩu điện.

Sớm tháo gỡ ‘nút thắt’ thể chế

Về dài hạn, theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, nếu xét trên phương diện phát triển nguồn năng lượng quy mô lớn, có khả năng đóng góp đáng kể cho hệ thống điện quốc gia, điện gió biển vẫn là lĩnh vực triển vọng nhất. Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất lớn, đặc biệt tại khu vực ven biển miền Trung và miền Nam. Quá trình phát triển có thể triển khai theo lộ trình từ gần bờ ra xa bờ, từ các trang trại điện gió trên đất liền ở các tỉnh Ninh Thuận cũ (nay là tỉnh Khánh Hòa) và Bình Thuận cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng) đến các vùng bãi triều, vùng nước nông như tỉnh Bạc Liêu cũ (nay là tỉnh Cà Mau), sau đó mở rộng dần ra các khu vực biển sâu khi điều kiện công nghệ và hạ tầng cho phép.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng, cho rằng, nếu trước đây năng lượng chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo đảm nguồn cung điện, thì hiện nay nhiều quốc gia đã coi phát triển năng lượng tái tạo là nền tảng hình thành các ngành công nghiệp mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng xanh. Vì vậy, điện gió ngoài khơi không chỉ là phát triển một nguồn điện mới mà còn là cơ hội xây dựng hệ sinh thái công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Theo các nghiên cứu quốc tế, mỗi dự án điện gió ngoài khơi kéo theo nhu cầu rất lớn về khảo sát biển, thiết kế kỹ thuật, chế tạo kết cấu thép, đóng tàu chuyên dụng, logistics cảng biển, vận hành, bảo dưỡng và nhiều dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Khi chuỗi giá trị này được phát triển trong nước, tác động của điện gió ngoài khơi sẽ vượt ra ngoài phạm vi ngành điện, trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp chế tạo, kinh tế biển và quá trình chuyển đổi xanh.

Tiềm năng, lợi thế là rất lớn, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, các dự án điện gió có vòng đời dài, trong khi công nghệ và thị trường năng lượng tiếp tục phát triển. Chính vì vậy, yêu cầu về một khung pháp lý ổn định, minh bạch, khả thi và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Đồng quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên cũng cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay của điện gió ngoài khơi Việt Nam chính là thể chế. Ông nhấn mạnh, cần sớm cụ thể hóa các chủ trương đã có thành những quy định pháp luật có thể áp dụng ngay trong thực tiễn, thay vì tiếp tục dừng lại ở việc ban hành thêm chủ trương mới. Theo ông, "điện gió ngoài khơi cần được xem là ngành công nghiệp chiến lược". Đồng thời, cơ chế mua điện cũng như cơ chế huy động vốn phải đủ minh bạch, đủ ổn định thì mới có thể thu hút được các nhà đầu tư có năng lực thực sự tham gia những dự án đòi hỏi vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài.

Cùng chung nhận định, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, cũng cho rằng phát triển điện gió ngoài khơi là xu hướng tất yếu, nhưng cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hướng tới khai thác biển xa, biển sâu. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế quản lý theo hướng thông thoáng, tạo động lực thu hút đầu tư nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về an ninh năng lượng, chuyển giao công nghệ và làm chủ công nghệ trong nước.

Bên cạnh đó, việc phát triển một ngành kinh tế mới có quy mô lớn đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ từ quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách đến nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là bài học thành công mà Việt Nam đã tích lũy trong quá trình xây dựng ngành dầu khí. Ông lưu ý thêm rằng biển là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực khác như thủy sản, du lịch, quốc phòng - an ninh, nên việc quy hoạch không gian biển cho điện gió ngoài khơi cần được thực hiện một cách bài bản, tránh chồng lấn lợi ích giữa các ngành.

Nếu khai thác tối đa "mỏ năng lượng" với tiềm năng hàng trăm GW ngoài khơi, Việt Nam sẽ không chỉ có thêm một nguồn điện sạch để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Xa hơn thế, đây còn là cơ hội để hình thành một ngành công nghiệp điện gió hiện đại - từ khảo sát, thiết kế, chế tạo thiết bị đến dịch vụ kỹ thuật biển - tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững.

TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.