Thứ bảy, 03/10/2026

Nghi Sơn hóa giải rủi ro nguồn cung khi 85% dầu thô qua Hormuz

Với 85% lượng dầu thô phục vụ cho sản xuất đi qua eo biển Hormuz, Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã chủ động nguồn thay thế, đảm bảo nguồn cung xăng, dầu trong năm 2026.

Nghi Sơn hóa giải rủi ro nguồn cung khi 85% dầu thô qua Hormuz

Được thành lập vào tháng 4/2008 tại Thanh Hóa với tổng vốn đầu tư khoảng 9,2 tỷ USD, Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) là một trong những dự án lọc hóa dầu có quy mô lớn tại Việt Nam, với sự tham gia của các nhà đầu tư Việt Nam, Nhật Bản và Kuwait.

Tuy nhiên, hành trình của NSRP từ khi đi vào hoạt động đến nay không phải lúc nào cũng thuận lợi khi liên tiếp chịu tác động từ đại dịch Covid-19, xung đột Nga - Ukraine từ đầu năm 2022. Đặc biệt là những biến động địa chính trị tại Trung Đông trong năm 2026 đã khiến eo biển Hormuz - cửa ngõ hàng hải quan trọng kết nối nguồn dầu từ Vịnh Ba Tư với thị trường thế giới bị phong tỏa, đã đặt ra thách thức lớn đối với nguồn nguyên liệu của nhà máy, khi phần lớn lượng dầu thô truyền thống của NSRP được vận chuyển qua tuyến hàng hải này.

Bên trong nhà máy trị giá trên 9 tỷ USD

Những ngày đầu tháng 10/2026, tôi có dịp đến thăm Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, công trình được động thổ từ năm 2008 và chính thức vận hành thương mại vào năm 2018. Chuyến đi càng trở nên đặc biệt khi đây là lần đầu tiên sau 8 năm đi vào vận hành, nhà máy mở cửa đón các cơ quan báo chí đến tham quan, tìm hiểu hoạt động sản xuất.

Theo giới thiệu của ông Lê Nguyễn Quốc Vinh - Giám đốc Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, tổng diện tích nhà máy phần đất liền hơn 500 ha, trong đó khoảng 100 ha được dành cho khả năng mở rộng trong tương lai. Bên cạnh đó, NSRP có khoảng 925 ha mặt biển phục vụ các công trình liên quan.

Một trong những hạng mục quan trọng là hệ thống tiếp nhận dầu thô từ ngoài khơi, từ phao rót dầu không bến SPM vào khu vực bể chứa dầu thô có chiều dài khoảng 34 km, với hai tuyến ống đường kính 42 inch, tương đương khoảng 1,2 m. Hiện nhà máy vận hành ở mức công suất cao, có thời điểm đạt 125% công suất thiết kế. Với mức vận hành này, trung bình mỗi tháng NSRP tiếp nhận khoảng 4 chuyến tàu dầu thô từ Kuwait và các nguồn khác, mỗi tàu có tải trọng khoảng 300.000 tấn. Nhà máy có 8 bể chứa dầu thô, mỗi bể dung tích khoảng 100.000 m³.

Về cấu hình công nghệ, toàn nhà máy có khoảng 60 phân xưởng, trong đó 38 phân xưởng công nghệ và 18 phân xưởng sử dụng công nghệ bản quyền từ 6 nhà bản quyền lớn trên thế giới.

Theo ông Vinh, NSRP là nhà máy có cấu hình công nghệ phức tạp, thuộc nhóm nhà máy lọc hóa dầu có độ phức tạp cao. Chỉ số Nelson Complexity Index của nhà máy khoảng 21,6, nhà máy có khả năng chế biến dầu thô chua với hàm lượng lưu huỳnh khoảng 2,6%, vì vậy phải có hệ thống các phân xưởng xử lý, thu hồi lưu huỳnh và các công nghệ liên quan.

Nếu không tính hệ thống đường ống, toàn nhà máy có khoảng 230.000 đầu mục thiết bị được định danh, quản lý. Đây là khối lượng thiết bị rất lớn, cho thấy quy mô cũng như yêu cầu cao đối với công tác vận hành, bảo dưỡng.

Một đặc điểm đáng chú ý là nhà máy hiện tự sản xuất toàn bộ điện và hơi phục vụ hoạt động sản xuất. Công suất thiết kế của hệ thống điện nhà máy khoảng 350 MW, trong khi nhu cầu sử dụng hiện tại khoảng 195 MW. NSRP cũng có hệ thống lò hơi và các tổ máy phát điện để đáp ứng nhu cầu năng lượng của toàn bộ nhà máy.

Bên cạnh đó là hệ thống xử lý nước thải, hệ thống bể chứa với khoảng 80-90 bể các loại cùng mạng lưới đường ống sản xuất và hệ thống nước biển làm mát.

Khối lượng nước biển sử dụng cho hoạt động của nhà máy rất lớn, hiện NSRP vận hành 4 bơm nước biển, mỗi bơm có công suất khoảng 13.000-13.200 m³/giờ, chủ yếu phục vụ làm mát và các yêu cầu của quá trình công nghệ.

Chuẩn bị nguồn thay thế từ trước khi xảy ra thiếu hụt

Chia sẻ với phóng viên, ông Lê Nguyễn Quốc Vinh cho biết, theo cam kết, 85% lượng dầu thô phục vụ NSRP được phía Kuwait cung cấp và toàn bộ lượng dầu này được vận chuyển qua eo biển Hormuz.

Theo ông Vinh, NSRP hoạt động trong một thị trường có mức độ biến động rất lớn, giá dầu có thể thay đổi hằng ngày và chịu ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố địa chính trị, đặc biệt là những diễn biến tại Trung Đông. Trong khi đó, phần lớn nguồn dầu thô truyền thống của nhà máy phải vận chuyển qua các tuyến hàng hải tại khu vực này, vì vậy bất kỳ sự gián đoạn nào đối với chuỗi vận chuyển đều có thể tác động trực tiếp đến nguồn nguyên liệu đầu vào và kế hoạch sản xuất.

Ông Kazutaka Yamato, Tổng giám đốc NSRP cho biết thêm, những biến động tại Trung Đông trong nửa đầu năm 2026 đã có thời điểm làm gián đoạn nguồn dầu thô của công ty. Với đặc thù của một nhà máy lọc hóa dầu phải vận hành liên tục, sự thiếu hụt nguyên liệu dù trong thời gian nhất định cũng gây sức ép đáng kể lên kế hoạch sản xuất cũng như khả năng cung ứng sản phẩm ra thị trường.

Trước những rủi ro đó, NSRP đã chủ động chuẩn bị phương án ứng phó từ khá sớm. Từ giữa năm 2025, công ty bắt đầu tìm kiếm, đánh giá các loại dầu thô bổ sung và đến tháng 12/2025 đã chốt mua những lô dầu ngoài nguồn cung truyền thống. Việc chủ động tiếp nhận và thử nghiệm từ sớm giúp nhà máy có điều kiện đánh giá mức độ tương thích của từng loại dầu với cấu hình công nghệ, đồng thời xây dựng phương án vận hành phù hợp với đặc tính của từng nguồn nguyên liệu.

Đến nay, NSRP đã chế biến thành công 10 loại dầu thô mới, qua đó mở rộng danh mục nguyên liệu, tăng khả năng lựa chọn từ nhiều thị trường và giảm mức độ phụ thuộc vào một nguồn cung nhất định khi chuỗi cung ứng gặp biến động. Theo ông Vinh, kết quả này không chỉ góp phần duy trì hoạt động sản xuất ổn định trong giai đoạn khó khăn mà còn tạo thêm dư địa để Công ty tiếp tục đa dạng hóa nguồn dầu thô trong thời gian tới.

Cùng với việc mở rộng nguồn nguyên liệu, NSRP cũng linh hoạt điều chỉnh phương thức vận hành theo tình hình thực tế. Giám đốc Nhà máy NSRP cho biết, trong tháng 1 và tháng 2/2026, nhà máy vận hành ở mức khoảng 125% công suất thiết kế, nhưng sang tháng 3 công suất bắt đầu được điều chỉnh giảm và đến tháng 4 có thời điểm chỉ còn khoảng 75-80% do khó khăn về nguồn dầu thô.

Trong bối cảnh đó, NSRP chủ động giảm sản xuất sản phẩm hóa dầu thông thường để dành nguyên liệu ưu tiên cho sản xuất xăng, dầu phục vụ thị trường trong nước. Do nhóm sản phẩm hóa dầu thông thường chiếm khoảng 15-16% tổng sản lượng, việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất đã giúp nhà máy tập trung nguồn nguyên liệu cho những sản phẩm thiết yếu, nhờ đó nguồn xăng dầu cung cấp ra thị trường vẫn được duy trì ngay cả khi tổng công suất vận hành có thời điểm phải giảm xuống.

Từ kinh nghiệm ứng phó với giai đoạn khó khăn, ông Kazutaka Yamato khái quát ba yếu tố quan trọng gồm “3P”: Preparation - People - Partnership, tức là chuẩn bị - con người - hợp tác.

Thứ nhất,Preparation - sự chuẩn bị. Từ năm trước, chúng tôi đã chủ động mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất; đồng thời nghiên cứu, đánh giá khả năng sử dụng nhiều loại dầu thô khác nhau. Chính sự chuẩn bị từ sớm đã giúp NSRP có thêm khả năng ứng phó khi thị trường xuất hiện khó khăn. Đây cũng là công việc chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai.

Thứ hai,People - con người. Nhà máy lọc hóa dầu hoạt động 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, kỹ sư, người lao động, đặc biệt là lực lượng vận hành, phải làm việc liên tục theo ca. Ngay cả trong giai đoạn khó khăn vừa qua, đội ngũ của NSRP đã làm việc rất nỗ lực. Sự tận tâm và cống hiến của cán bộ, nhân viên là một trong những yếu tố quan trọng giúp nhà máy duy trì hoạt động an toàn, ổn định.

Thứ ba,Partnership - sự hợp tác. Những kết quả của NSRP không thể đạt được chỉ bằng nỗ lực của riêng công ty. Chúng tôi nhận được sự hỗ trợ và đồng hành tích cực từ Chính phủ Việt Nam, tỉnh Thanh Hóa, các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương, Bộ Tài chính; Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam cùng các nhà đầu tư và các bên liên quan. Đặc biệt, các đơn vị thuộc Petrovietnam đã tham gia cung ứng, vận chuyển nhiều lô dầu bổ sung cho Nhà máy trong giai đoạn nguồn nguyên liệu gặp khó khăn

“Trong giai đoạn khó khăn của khoảng 6 tháng vừa qua, sự phối hợp và hỗ trợ của các bên có ý nghĩa rất lớn đối với NSRP. Vì vậy, chúng tôi rất trân trọng và xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các đối tác đã và đang đồng hành, hỗ trợ công ty”, Kazutaka Yamato nhấn mạnh.

Chủ động nguyên liệu cho những tháng cuối năm

Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn được thiết kế với công suất chế biến 10 triệu tấn dầu thô mỗi năm, song trong những năm gần đây công suất thực tế liên tục được nâng lên. Riêng năm 2025, nhà máy chế biến khoảng 11,8 triệu tấn dầu thô, tương đương 118% công suất thiết kế tính trên 365 ngày vận hành, trong khi những tháng đầu năm 2026 công suất có thời điểm được nâng lên mức 120-125%.

Trong 9 tháng năm 2026, nhà máy đã chế biến khoảng 8,38 triệu tấn dầu thô và cung ứng khoảng 6,54 triệu tấn sản phẩm xăng dầu ra thị trường. Tính từ khi đi vào vận hành năm 2018 - 2026, Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã đóng góp khoảng 147.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tương đương khoảng 5,7 tỷ USD.

“Với khả năng vận hành ở mức khoảng 125% công suất thiết kế, trong những tháng còn lại của năm, chúng tôi dự kiến cung ứng thêm khoảng 2,7 triệu tấn sản phẩm, qua đó nâng tổng sản lượng sản phẩm cung ứng trong năm lên khoảng 9,2 triệu tấn. Đây sẽ là nguồn cung quan trọng bổ sung cho thị trường trong nước, nhất là trong giai đoạn nhu cầu tiêu thụ cuối năm tăng cao”, ông Vinh cho biết.

Với quy mô sản lượng này, NSRP tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước, nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Theo lãnh đạo nhà máy, đây cũng là trách nhiệm lớn đặt ra đối với NSRP, đòi hỏi công ty phải duy trì sản xuất ổn định, đồng thời chủ động nguồn nguyên liệu để bảo đảm khả năng cung ứng cho thị trường.

Bên cạnh đó, đối với nguồn dầu thô từ Kuwait, NSRP có hợp đồng cung ứng dài hạn và đây vẫn là nguồn nguyên liệu được ưu tiên. Từ tháng 9/2026, nguồn cung này đã trở lại và nhà máy đã tiếp nhận ba chuyến dầu thô; trong tháng 10/2026, dự kiến tiếp tục có thêm ba chuyến từ nguồn cung truyền thống và một chuyến dầu bổ sung từ nguồn khác, tạo cơ sở để duy trì công suất sản xuất trong những tháng cuối năm.

Việc nâng công suất cũng được thực hiện từng bước trên cơ sở rà soát chặt chẽ các điều kiện kỹ thuật, an toàn và những yêu cầu liên quan. Tính đến tháng 8/2026, NSRP đạt 30 triệu giờ công lao động an toàn, không xảy ra tai nạn gây mất ngày công, đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với một tổ hợp lọc hóa dầu vận hành liên tục và có quy mô lớn, bởi an toàn vận hành chính là điều kiện nền tảng để duy trì sản xuất cũng như bảo đảm nguồn cung ổn định.

“Trong thời gian tới, NSRP sẽ tiếp tục kết hợp giữa các hợp đồng cung ứng dài hạn và việc mua dầu thô trên thị trường giao ngay, đồng thời mở rộng chương trình đánh giá, thử nghiệm các loại dầu thô mới. Chiến lược này không chỉ góp phần tăng cường an ninh nguồn cung, giảm thiểu rủi ro địa chính trị mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, tính linh hoạt trong vận hành và khả năng hoạt động bền vững của công ty”, ông Vinh khẳng định.

Tăng dự trữ và củng cố sức chống chịu dài hạn

Những khó khăn về nguồn nguyên liệu trong thời gian qua cũng đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực dự trữ nhằm giúp chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động bất thường. Theo ông Kazutaka Yamato, NSRP đang trao đổi và đề xuất xem xét phương án xây dựng kho dự trữ dầu thô quốc gia gần Nhà máy, qua đó có thể tận dụng một phần hạ tầng tiếp nhận dầu thô hiện hữu.

Hiện NSRP có hệ thống phao neo một điểm ngoài khơi, cách bờ khoảng 35 km, có khả năng tiếp nhận các tàu dầu thô cỡ rất lớn, cùng hệ thống đường ống đưa dầu từ ngoài khơi vào nhà máy. Theo doanh nghiệp, nếu kho dự trữ được xây dựng gần NSRP, có thể nghiên cứu sử dụng chung hệ thống tiếp nhận và đường ống này, đồng thời đầu tư bổ sung tuyến ống kết nối với khu bể chứa. Đây là lợi thế đáng kể, bởi việc xây dựng mới hạ tầng tiếp nhận dầu thô ngoài khơi đòi hỏi chi phí lớn và thời gian dài.

“Tận dụng hạ tầng sẵn có sẽ giúp hạn chế chi phí đầu tư. Khi đó, các hạng mục cần bổ sung chủ yếu là bể chứa, đường ống kết nối, một số thiết bị bơm và nguồn vốn để mua, duy trì lượng dầu thô dự trữ.Đây hiện là phương án đang được đề xuất, trao đổi với các cơ quan chức năng, nếu được xem xét triển khai, nguồn dầu dự trữ gần cơ sở chế biến có thể hỗ trợ sản xuất khi nguồn nhập khẩu gián đoạn, tăng khả năng ứng phó cho chuỗi cung ứng xăng dầu”, ông Kazutaka Yamato cho hay.

Cùng với giải pháp về dự trữ, NSRP đang phối hợp với các bên góp vốn tìm kiếm phương án giảm chi phí tài chính và củng cố nền tảng hoạt động trong dài hạn. Mặc dù các cuộc trao đổi hiện chưa có kết luận cuối cùng, mục tiêu được đặt ra là nâng cao khả năng duy trì sản xuất qua những chu kỳ biến động của ngành lọc hóa dầu, đồng thời củng cố sức chống chịu của Nhà máy trước những rủi ro từ thị trường và địa chính trị.

Trong 8 tháng năm 2026, doanh thu của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn đạt khoảng 185.000 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước khoảng 18.000 tỷ đồng. Nếu tiếp tục duy trì mức vận hành khoảng 125% công suất, trong 4 tháng cuối năm nhà máy dự kiến sản xuất khoảng 3,6 triệu tấn sản phẩm, trong đó khoảng 3 triệu tấn là xăng, dầu; doanh thu 4 tháng cuối năm dự kiến đạt khoảng 97.300 tỷ đồng.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.