Động lực tăng trưởng hai con số
Trước những biến động của kinh tế thế giới và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cần tạo dựng những động lực tăng trưởng mới, trong đó phát triển hệ thống khu công nghiệp hiện đại giữ vai trò quan trọng.
Theo thống kê, đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 478 khu công nghiệp, gồm 421 khu công nghiệp nằm ngoài khu kinh tế, 49 khu công nghiệp thuộc các khu kinh tế ven biển và 8 khu công nghiệp thuộc khu kinh tế cửa khẩu. Tại nhiều địa phương, hơn 50% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút vào các khu công nghiệp.
Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với 6 quan điểm chỉ đạo, mục tiêu đến năm 2030 và 2045 cùng 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, tạo nền tảng nâng cao chất lượng thu hút đầu tư và phát triển bất động sản công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu"đẩy nhanh chuyển đổi các khu công nghiệp, khu kinh tế và khu công nghệ cao theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên ngành".
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Trâm Anh - Quản lý Dự án quốc gia Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc nhấn mạnh, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị đã đặt ra mục tiêu rất quyết liệt đó là đến năm 2030 có 10% khu công nghiệp của Việt Nam trở thành khu công nghiệp sinh thái.
"Đây là định hướng rất đúng đắn, đóng vai trò như kim chỉ nam cho quá trình phát triển và chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng sinh thái tại Việt Nam. Trên nền tảng đó, khả năng cạnh tranh, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao của Việt Nam cũng sẽ được tăng cường trong thời gian tới",bà Trâm Anh cho hay.
Về hành lang pháp lý, từ Nghị định số 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế và Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái, Việt Nam đã đưa ra các định nghĩa cũng như những biện pháp khuyến khích chuyển đổi và xây dựng mới các khu công nghiệp sinh thái.
Các quy định này tạo nền tảng pháp lý chung cho quá trình phát triển khu công nghiệp sinh thái trong nước. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để thu hút những nhà đầu tư quốc tế có quy mô và chất lượng cao, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng tiệm cận các chuẩn mực toàn cầu.
Theo đó, hiện khung pháp lý của Việt Nam chưa áp dụng đầy đủ bộ tiêu chí quốc tế về khu công nghiệp sinh thái gồm 64 tiêu chí, được chia thành bốn nhóm: quản trị, môi trường, kinh tế và xã hội. Các tiêu chí này có nhiều điểm tương đồng với các yêu cầu về ESG.
Nếu hướng tới các nhà đầu tư toàn cầu, Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng khung khu công nghiệp sinh thái ngay từ giai đoạn quy hoạch và đầu tư ban đầu. Khi đó, các khu công nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để được các tổ chức quốc tế đánh giá, công nhận và cấp chứng nhận.
Bên cạnh hoàn thiện tiêu chuẩn, hoạt động chăm sóc nhà đầu tư cũng cần được chú trọng sâu hơn. Đây là những yếu tố khó lượng hóa nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ chân nhà đầu tư, thúc đẩy họ mở rộng hoạt động và gắn bó lâu dài. Khi có trải nghiệm tích cực, chính các nhà đầu tư sẽ trở thành những đại sứ thương hiệu, góp phần quảng bá hình ảnh và môi trường đầu tư của Việt Nam.
Chia sẻ kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp trong khuôn khổ Diễn đàn Phát triển khu công nghiệp Việt Nam 2026 - Ảnh: Thanh Thanh
Chuẩn ESG định hình cuộc đua
Theo bà Sinem Demir Duru - Chuyên gia Khử các-bon và Trưởng nhóm Chương trình Khu công nghiệp sinh thái (EIP) khu vực Châu Á, Ban Tư vấn và Hỗ trợ Tiền đầu tư, Khối Sản xuất, Kinh doanh nông nghiệp và Dịch vụ (MAS), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) cho rằng, câu chuyện về năng lực cạnh tranh đang thay đổi cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp sinh thái. Đây cũng là lĩnh vực có khả năng tạo sức hút đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao.
Vị chuyên gia cho rằng một trong những nội dung được quan tâm nhiều là ESG, gồm các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị. Đây là yếu tố quan trọng cần được tích hợp vào quá trình quy hoạch, đầu tư và vận hành các khu công nghiệp.
Cùng đó là yếu tố niềm tin, việc nâng cao hiệu quả hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống chứng nhận. Khi hệ thống chứng nhận được thiết lập, niềm tin của nhà đầu tư bắt đầu được hình thành; chứng nhận cho thấy một mô hình hoặc hệ thống đã được đánh giá, kiểm chứng và có cơ sở để tạo dựng sự tin cậy.
Thứ hai là khả năng thu hút FDI thông qua mô hình kinh tế tuần hoàn. Tính tuần hoàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các khu công nghiệp. Việc hình thành các hệ thống khép kín, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao khả năng tự chủ sẽ góp phần gia tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba là phát triển hoạt động sản xuất có giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi các khu công nghiệp chuyển từ mô hình sản xuất cơ bản sang các hoạt động sản xuất tiên tiến hơn, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông minh và trí tuệ nhân tạo.
Đồng quan điểm, chia sẻ tại diễn đàn Phát triển khu công nghiệp Việt Nam năm 2026 vừa diễn ra tại TP. Hải Phòng, ông Koen Sones - Giám đốc Kinh doanh và Tiếp thị Khu công nghiệp DEEP C nhấn mạnh, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với lựa chọn địa điểm của các tập đoàn quốc tế chính là sự tin tưởng.
Theo ông, khi một doanh nghiệp bỏ ra hàng trăm triệu USD để xây dựng nhà máy có vòng đời từ 30-50 năm, quyết định đầu tư không đơn thuần là lựa chọn một khu đất phù hợp. Doanh nghiệp còn tìm kiếm một đối tác có đủ năng lực, uy tín và cam kết để đồng hành trong suốt quá trình triển khai, vận hành và mở rộng dự án.
Bởi vậy, những tiêu chí truyền thống như vị trí địa lý, hạ tầng, nguồn nhân lực, chi phí đầu tư hay chính sách ưu đãi vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng chưa đủ để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Nhà đầu tư ngày càng quan tâm sâu hơn đến năng lực hỗ trợ của khu công nghiệp trong việc thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị, thường được gọi là ESG.
Cùng đó, khả năng hỗ trợ doanh nghiệp giảm phát thải, sử dụng năng lượng hiệu quả, quản lý chất thải và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe từ khách hàng toàn cầu đang trở thành tiêu chí quan trọng trong quá trình ra quyết định đầu tư.
Theo ông Koen Sones, một khu công nghiệp muốn thu hút dòng vốn chất lượng cao cần chứng minh được năng lực đồng hành lâu dài với doanh nghiệp. Niềm tin vì thế phải được xây dựng bằng hạ tầng đồng bộ, quản trị minh bạch, dịch vụ chuyên nghiệp và cam kết phát triển bền vững được thực hiện trong thực tế.