Thứ sáu, 23/10/2026

Logistics phía Nam: Gỡ điểm nghẽn, khơi thông mạch hàng hóa

Với lợi thế về hạ tầng và vị trí giao thương, logistics phía Nam đang đứng trước cơ hội chuyển mình, hình thành mạng lưới vận tải và chuỗi cung ứng hiện đại.

Logistics phía Nam: Gỡ điểm nghẽn, khơi thông mạch hàng hóa

Chi phí logistics còn là lực cản tăng trưởng

Sở hữu nhiều cảng biển, sân bay, cửa khẩu quốc tế và trung tâm công nghiệp lớn, khu vực phía Nam có lợi thế để phát triển dịch vụ logistics. Tuy nhiên, những bất cập trong kết nối hạ tầng, chi phí vận chuyển và tổ chức chuỗi cung ứng đang khiến tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Toàn cảnh phiên tham luận tại Hội nghị ngành Công Thương khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026, tập trung thảo luận các giải pháp liên kết vùng, phát triển chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị nông thủy sản.

Đây là vấn đề được các địa phương tập trung phân tích tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026, diễn ra ngày 22/10 tại TP. Hồ Chí Minh. Từ thực tiễn phát triển công nghiệp, thương mại biên giới đến xuất khẩu nông thủy sản, các tham luận đều cho thấy logistics đang trở thành mắt xích quan trọng cần được tháo gỡ để thúc đẩy tăng trưởng.

Trong tham luận về phát triển hệ sinh thái logistics gắn với sân bay quốc tế Long Thành, ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Công Thương thành phố Đồng Nai nhận định, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ vận tải mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh. Theo số liệu được địa phương dẫn tại hội nghị, chi phí logistics của doanh nghiệp trên địa bàn và vùng phía Nam dao động khoảng 14–16% GDP, cao hơn mức bình quân thế giới 10,6%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ ùn tắc cục bộ trên một số tuyến giao thông, thiếu đồng bộ giữa vận tải đường bộ, đường thủy và đường sắt, trong khi hệ thống kho bãi còn phân tán.

Ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai, chỉ ra những điểm nghẽn về hạ tầng và chi phí logistics, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khu vực phía Nam.

Áp lực này càng rõ nét khi nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng. Giám đốc Sở Công Thương thành phố Đồng Nai cho biết, trong 9 tháng năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua địa bàn đạt khoảng 75 triệu tấn, tăng 11,2% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải và kho bãi tăng 11,03%. Với hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải, cảng Phước An và sân bay Long Thành, địa phương đứng trước cơ hội hình thành trung tâm logistics đa phương thức. Tuy nhiên, nếu kết nối giữa các đầu mối này không được cải thiện, lưu lượng hàng hóa gia tăng sẽ tiếp tục gây áp lực lên hạ tầng hiện hữu.

Ở góc độ thương mại biên giới, ông Trương Tấn Sơn, Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh chỉ ra những thách thức tương tự. Địa phương có đường biên giới khoảng 369 km, với 21 cửa khẩu, trong đó có 4 cửa khẩu quốc tế, giữ vị trí quan trọng trên hành lang kinh tế Xuyên Á kết nối TP. Hồ Chí Minh với Campuchia, Thái Lan và các nước tiểu vùng Mekong mở rộng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Tây Ninh đạt khoảng 31,47 tỷ USD, tăng 12,38% so với năm trước.

Tuy nhiên, theo Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh, chi phí logistics vẫn chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm. Thời gian thông quan, lưu kho và trung chuyển hàng hóa còn phụ thuộc đáng kể vào năng lực hạ tầng và dịch vụ vận tải. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ nâng cấp các tuyến giao thông đến cửa khẩu, mà còn phát triển hệ thống kho bãi, dịch vụ hậu cần và kết nối với các trung tâm sản xuất, cảng biển. Nếu thiếu những mắt xích đó, lợi thế cửa ngõ giao thương khó chuyển thành giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.

Trong khi đó, tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhu cầu phát triển logistics gắn liền với đặc thù sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông thủy sản. Theo ông Ngô Thái Chân, Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ, địa phương đang phát huy vai trò đầu mối kết nối vùng nguyên liệu với các cơ sở chế biến, hệ thống kho lạnh và cảng biển. Việc hoàn thiện hạ tầng logistics được xác định là điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng bảo quản, giảm chi phí vận chuyển và tạo thuận lợi cho hàng hóa tiếp cận thị trường.

Cần Thơ hiện có 3 trung tâm logistics đang hoạt động, trong đó có Trung tâm logistics Nông sản xuất khẩu Hậu Giang. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả lợi thế sản xuất nông thủy sản của toàn vùng, việc phát triển hạ tầng kho vận cần gắn chặt hơn với hệ thống giao thông, trung tâm chế biến và các đầu mối xuất khẩu, từng bước giảm sự phụ thuộc vào hệ thống cảng tại Đông Nam Bộ.

Từ những thực tế trên, có thể thấy điểm nghẽn logistics phía Nam không đơn thuần nằm ở việc thiếu hạ tầng, mà còn ở sự phân tán trong đầu tư và khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải. Giải quyết bài toán này đòi hỏi cách tiếp cận vượt khỏi ranh giới từng địa phương, hướng đến một mạng lưới logistics liên vùng có khả năng phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu.

Liên kết hạ tầng, mở đường giảm chi phí logistics

Trước những điểm nghẽn hiện hữu, các địa phương phía Nam đề xuất nhiều giải pháp phát triển trung tâm logistics, kết nối vận tải đa phương thức và hoàn thiện cơ chế điều phối. Điểm chung trong các kiến nghị là không chỉ mở rộng quy mô hạ tầng, mà phải nâng cao hiệu quả khai thác và giảm chi phí thực tế cho doanh nghiệp.

Giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai Vũ Ngọc Long đề xuất phát triển hệ sinh thái logistics phụ trợ quanh sân bay quốc tế Long Thành, trong đó có các trung tâm logistics quy mô trên 100 ha phục vụ hàng hóa hàng không, linh kiện điện tử, sản phẩm công nghệ cao, dược phẩm và thương mại điện tử xuyên biên giới. Địa phương đồng thời định hướng hình thành các khu cảng cạn, kho bãi và hậu cần vệ tinh tại cảng Phước An, Trảng Bom - Bàu Cạn, tạo đầu mối trung chuyển hàng hóa cho Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Để phát huy hiệu quả hệ thống này, lãnh đạo Sở Công Thương Đồng Nai kiến nghị đẩy nhanh các tuyến giao thông kết nối sân bay Long Thành, nghiên cứu triển khai đường sắt chuyên dụng Trảng Bom - Long Thành - Cái Mép, đồng thời nâng cấp luồng vận tải thủy trên các sông Đồng Nai, Nhà Bè và Thị Vải. Cùng với hạ tầng, địa phương đề xuất nền tảng chia sẻ dữ liệu liên vùng giữa hải quan, sân bay, cảng biển và doanh nghiệp vận tải, hướng đến tổ chức luồng hàng hiệu quả và giảm chi phí trung chuyển.

Ông Trương Tấn Sơn, Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hạ tầng logistics, giảm chi phí và phát huy lợi thế thương mại biên giới trên hành lang kinh tế Xuyên Á.

Với Tây Ninh, trọng tâm là phát triển logistics cửa khẩu gắn với hành lang kinh tế Xuyên Á. Tây Ninh đã quy hoạch 17 trung tâm logistics với tổng diện tích 1.246 ha, trong đó 2 trung tâm đi vào hoạt động. Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh Trương Tấn Sơn xác định việc phát triển các trung tâm logistics tại Mộc Bài, Xa Mát, kết hợp kho ngoại quan, kho lạnh và cảng cạn là hướng đi quan trọng để nâng cao năng lực phục vụ thương mại xuyên biên giới.

Địa phương đồng thời đề xuất tăng cường kết nối các trung tâm logistics cửa khẩu với khu công nghiệp, cảng biển và mạng lưới giao thông liên vùng. Theo định hướng của Sở Công Thương Tây Ninh, logistics không chỉ phục vụ thông quan, trung chuyển hàng hóa mà còn phải thúc đẩy hình thành chuỗi công nghiệp - dịch vụ dọc hành lang kinh tế, phát triển các hoạt động đóng gói, phân phối hàng hóa, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đối với Cần Thơ, Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ Ngô Thái Chân cho biết, thành phố dự kiến phát triển 11 trung tâm logistics vào năm 2030, đồng thời định hướng hình thành trung tâm logistics hàng không khoảng 100 ha tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ. Hạ tầng này được đặt trong mối liên kết với cảng biển Trần Đề, các tuyến cao tốc và hệ thống kho lạnh phục vụ chế biến, bảo quản nông sản.

Cùng với việc phát triển các trung tâm logistics, định hướng kết nối hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy và hàng không được kỳ vọng tạo điều kiện để hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long mở rộng khả năng xuất khẩu trực tiếp. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm khâu trung chuyển và phát huy vai trò của Cần Thơ trong mạng lưới logistics vùng.

Ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, phát biểu tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026.

Theo nội dung kiến nghị của TP. Hồ Chí Minh, hoạt động logistics liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, trong khi việc phân công trách nhiệm giữa một số cơ quan Trung ương chưa thật sự rõ ràng, ảnh hưởng đến công tác điều phối và tổ chức thực hiện chính sách.

Từ thực tế đó, TP. Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ nghiên cứu thiết lập đầu mối thống nhất về quản lý nhà nước đối với logistics ở cấp quốc gia, có thể theo mô hình Ủy ban Logistics quốc gia hoặc cơ chế điều phối phù hợp. Thành phố đồng thời đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng công nghệ dùng chung, tạo thuận lợi cho việc kết nối thông tin, theo dõi hoạt động vận chuyển và giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Trả lời kiến nghị của TP. Hồ Chí Minh, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) xác định sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu hoàn thiện cơ chế điều phối, hỗ trợ phát triển trung tâm logistics và các hành lang vận tải liên vùng.

Đồng thời, Cục định hướng thúc đẩy chia sẻ dữ liệu về chi phí, thời gian vận chuyển và năng lực hạ tầng, trên cơ sở tận dụng các hệ thống hiện có, tránh đầu tư trùng lặp và phát sinh thêm tầng nấc trung gian.

Từ các giải pháp được đề xuất, có thể thấy logistics phía Nam cần một mạng lưới liên kết vượt khỏi ranh giới hành chính. Sân bay, cảng biển, cửa khẩu, khu công nghiệp và vùng nguyên liệu phải được kết nối trong một hệ thống vận hành thông suốt.

Trong năm 2026, TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức 4 lớp đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực logistics và bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho doanh nghiệp. Thành phố cũng tổ chức hội nghị kết nối chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics trong các lĩnh vực dệt may, da giày, chế biến gỗ, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp sản xuất và đơn vị cung ứng dịch vụ.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.