Yếu tố then chốt để xây dựng hồ sơ điện tử cho nông sản
Tại tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức ngày 9/7, ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông sản, thủy sản, cho rằng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng vượt ra ngoài chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc, quy trình sản xuất, chăm sóc, sơ chế, chế biến và toàn bộ hành trình của sản phẩm.
Theo ông Thành, để đáp ứng yêu cầu này, cần số hóa toàn bộ dữ liệu từ vùng trồng, nhật ký chăm sóc của nông dân, vận chuyển, cơ sở đóng gói, chế biến, kiểm nghiệm đến hồ sơ xuất khẩu. Sau khi được số hóa, các dữ liệu phải được liên kết trên một nền tảng quản lý chuỗi cung ứng thống nhất để hình thành hồ sơ điện tử hoàn chỉnh của từng lô hàng.
Ông Thành cho biết, mô hình này đã được triển khai với sản phẩm sầu riêng. Hệ thống xây dựng ba lớp định danh gồm từng quả sầu riêng, từng thùng hàng và container xuất khẩu. Mỗi container chứa toàn bộ thông tin về sản phẩm, quy trình sản xuất, kiểm nghiệm và hồ sơ thông quan. Khi đến cửa khẩu, cơ quan hải quan chỉ cần truy xuất mã định danh của container để tiếp cận toàn bộ dữ liệu liên quan.
Việc chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giúp rút ngắn thời gian từ thu hoạch đến xuất khẩu, tăng vòng quay hàng hóa và tạo nền tảng triển khai mô hình hải quan thông minh với các nước đối tác.
Để triển khai hiệu quả, vấn đề số hóa phải bắt đầu từ địa phương, doanh nghiệp và hộ nông dân thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu về mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói, vị trí từng vườn, từng hộ sản xuất và nhật ký chăm sóc. Ba yếu tố then chốt là dữ liệu, kết nối toàn bộ chuỗi dữ liệu và liên thông dữ liệu giữa người sản xuất, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), nhận định chuyển đổi số không chỉ giúp thông quan nhanh hơn mà còn nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm kiểm soát minh bạch, phòng chống gian lận thương mại.
Ngành Hải quan đã số hóa toàn bộ hồ sơ, tự động đối chiếu dữ liệu và áp dụng quản lý rủi ro trong thông quan. Hiện nay, phần lớn nông sản xuất khẩu được phân luồng xanh, giúp thủ tục thông quan diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, toàn bộ các khâu trước đó như kiểm nghiệm, kiểm dịch, cấp giấy chứng nhận xuất xứ cũng cần được số hóa và kết nối dữ liệu.
Ông Âu Anh Tuấn cũng cho biết Hải quan đang phối hợp với các bộ, ngành rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, đồng thời thúc đẩy kết nối dữ liệu với Hải quan Trung Quốc và các đối tác nhằm tiến tới công nhận kết quả kiểm tra lẫn nhau, giảm tỷ lệ kiểm tra lại tại nước nhập khẩu và rút ngắn thời gian thông quan.
Tạo liên kết xuyên suốt giữa nghiên cứu, chế biến và logistics
Theo ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn, số hóa và khoa học công nghệ là nền tảng quan trọng, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào cách tổ chức sản xuất và quản trị chuỗi giá trị.
Ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ảnh: Lê An
Chuyên gia kinh tế này cũng cho rằng, trước những thay đổi về công nghệ, quản lý và thị trường thế giới, đã đến lúc rà soát lại quy hoạch các ngành hàng, tổ chức các vùng chuyên canh quy mô lớn với hạt nhân là khoa học công nghệ. Các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và khu nông nghiệp công nghệ cao cần được kết nối với hệ thống chế biến sâu, logistics và hạ tầng giao thông để hình thành chuỗi giá trị thống nhất.
Theo ông Đặng Kim Sơn, nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và sự liên kết giữa người sản xuất, doanh nghiệp, đơn vị cung ứng dịch vụ và cơ quan quản lý giữ vai trò trung tâm.
Ông Sơn cũng đề xuất nghiên cứu mô hình Hội đồng ngành hàng với sự tham gia của các bộ, địa phương, doanh nghiệp và nông dân nhằm thống nhất chiến lược phát triển, quy hoạch, đầu tư và chính sách. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế để các thành viên trong chuỗi cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro, gắn trách nhiệm của các cơ quan quản lý với hiệu quả hoạt động của từng ngành hàng.
Đồng quan điểm về yêu cầu tăng cường điều phối, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho rằng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản là một lĩnh vực kinh tế có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều chủ thể nên cần một cơ chế điều hành đủ mạnh.
Theo ông Nam, cần thành lập một ban chỉ đạo để điều phối khối lượng công việc lớn, nhất là những nhiệm vụ mới và những nội dung cần sửa đổi, hoàn thiện. Trong đó, một tổ thường trực cần bám sát mục tiêu, huy động các nguồn lực và theo dõi quá trình triển khai theo kế hoạch. Ông Nam bày tỏ mong muốn mô hình điều phối này sớm được hình thành nhằm tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện và thúc đẩy tiến độ hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD.
Theo các chuyên gia, khi dữ liệu được liên thông, thủ tục được đơn giản hóa và chuỗi giá trị được tổ chức đồng bộ, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD.