Doanh nghiệp sắt, thép trước yêu cầu kiểm kê và bài toán dữ liệu
Tại hội thảo “Tăng cường năng lực về Hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở và giảm phát thải khí nhà kính cho các lĩnh vực nhiệt điện, xi măng và sắt thép” do Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức ngày 30/6, ông Nguyễn Tiến Hải, Giám đốc kỹ thuật Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC), cho biết thị trường carbon Việt Nam đã chính thức vận hành từ ngày 29/6/2026, một dấu mốc quan trọng trong lộ trình thực hiện cam kết giảm phát thải. Ngay trong phiên giao dịch đầu tiên, hệ thống đã kết nối giữa các doanh nghiệp có hạn ngạch phát thải và các doanh nghiệp có nhu cầu mua bổ sung.
Theo ông Hải, hàng hóa giao dịch trên thị trường carbon hiện gồm hai nhóm chính là hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu mới chỉ có hạn ngạch đủ điều kiện đưa vào giao dịch, trong khi tín chỉ carbon vẫn chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn để tham gia thị trường. Ngay trong phiên giao dịch đầu tiên, 6 doanh nghiệp đã thực hiện thành công giao dịch với tổng khối lượng khoảng 1.200 hạn ngạch. Giá giao dịch dao động từ 130.000–136.000 đồng/hạn ngạch, cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường ngay từ giai đoạn khởi động.“Biến đổi khí hậu và phát thải khí nhà kính không còn là gánh nặng tuân thủ đơn thuần, mà đang trở thành cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp tiên phong tham gia thị trường carbon”, ông Hải nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Tiến Hải cho biết hệ thống pháp lý điều chỉnh thị trường carbon và kiểm kê khí nhà kính hiện được xây dựng trên nền tảng Luật Bảo vệ môi trường 2020, cùng Nghị định 06 và Nghị định 119/2025 sửa đổi, bổ sung. Danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cũng liên tục được mở rộng: từ 1.912 cơ sở (Quyết định 01/2022), lên 2.166 cơ sở (Quyết định 13/2024) và dự kiến khoảng 2.411 cơ sở trong bản cập nhật mới nhất.
Theo ông Hải, việc mở rộng này cho thấy phạm vi điều chỉnh của chính sách khí hậu đang ngày càng bao phủ rộng hơn, đặc biệt trong các ngành phát thải lớn như thép, xi măng và nhiệt điện. Về nguyên tắc, doanh nghiệp có phát thải từ 3.000 tấn CO₂ tương đương/năm trở lên thuộc diện kiểm kê bắt buộc. Tuy nhiên, do chưa thể đo đếm chính xác ngay từ đầu, tiêu chí tạm thời được xác định dựa trên mức tiêu thụ năng lượng trọng điểm.
Đối với ngành thép, kiểm kê khí nhà kính tập trung vào hai phạm vi chính: phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu và quá trình sản xuất (phạm vi 1), và phát thải gián tiếp từ điện năng mua vào (phạm vi 2). Phạm vi 3 hiện chưa bắt buộc, trừ khi doanh nghiệp công bố cam kết Net Zero hoặc báo cáo phát triển bền vững.
Một nội dung quan trọng được nhấn mạnh tại hội thảo là sự thay đổi lớn trong quy định kiểm kê khí nhà kính theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP. Theo đó, báo cáo kiểm kê khí nhà kính hai năm một lần nhưng phải bao gồm dữ liệu của cả hai năm trong kỳ báo cáo. Ví dụ, báo cáo năm 2027 sẽ phải tổng hợp số liệu của năm 2025 và 2026. Đối với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải, báo cáo kiểm kê bắt buộc phải được thẩm định bởi tổ chức độc lập được công nhận. Báo cáo sau thẩm định sẽ được gửi trực tiếp về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 1/12/2027.
Ông Hải cho rằng, đây là thay đổi mang tính bước ngoặt, nâng tiêu chuẩn minh bạch của hệ thống MRV (đo đạc – báo cáo – thẩm định), đồng thời tạo nền tảng cho vận hành thị trường carbon. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không nằm ở công thức tính toán mà ở khâu dữ liệu. “Công thức tính phát thải không phức tạp. Doanh nghiệp chỉ cần lấy dữ liệu hoạt động nhân với hệ số phát thải là có thể xác định lượng phát thải. Nhưng vấn đề nằm ở việc thu thập và chuẩn hóa dữ liệu đầu vào”, ông Hải nhấn mạnh.
Thực tế tại nhiều doanh nghiệp cho thấy dữ liệu bị phân tán ở nhiều bộ phận, từ kế toán, sản xuất đến kho vận. Việc tổng hợp thủ công không chỉ tốn thời gian mà còn dễ xảy ra sai lệch giữa các nguồn số liệu. Theo chuyên gia, nếu không xây dựng quy trình số hóa và quản trị dữ liệu tập trung, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn lớn khi bước vào giai đoạn thẩm định bắt buộc.
Áp lực tuân thủ, chi phí phát thải và khuyến nghị cho doanh nghiệp sắt, thép
Một trong những vấn đề được doanh nghiệp quan tâm là chi phí tuân thủ trong thị trường carbon. Theo cơ chế hiện hành, doanh nghiệp có thể phát sinh hai tình huống: dư hạn ngạch hoặc thiếu hạn ngạch phát thải. Nếu phát thải thấp hơn hạn ngạch được phân bổ, doanh nghiệp có thể bán phần dư trên thị trường carbon. Ngược lại, nếu vượt hạn ngạch, doanh nghiệp buộc phải mua bổ sung để thực hiện nghĩa vụ nộp trả. Ông Hải cho rằng đây chính là điểm tạo ra cơ chế thị trường, biến phát thải carbon từ nghĩa vụ hành chính thành yếu tố kinh tế. Tuy nhiên, doanh nghiệp thép cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh, bởi chi phí carbon không phải lúc nào cũng có thể chuyển sang giá bán sản phẩm.
Ông Nguyễn Tiến Hải, Giám đốc kỹ thuật Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC) chia sẻ tại Hội thảo. Ảnh: Châu Anh
Ở góc độ kỹ thuật, ngành thép hiện áp dụng Thông tư 38/2023/TT-BCT của Bộ Công Thương với phương pháp kiểm kê bậc 1. Phương pháp này sử dụng công thức đơn giản: sản lượng nhân với hệ số phát thải. Ví dụ, thép sản xuất bằng lò điện hồ quang có hệ số phát thải khoảng 0,06 tấn CO₂/tấn thép, trong khi công nghệ lò cao có thể lên tới 2,47 tấn CO₂/tấn sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về công nghệ giữa các doanh nghiệp. Do đó, trong phân bổ hạn ngạch, cần hướng tới phương pháp tính toán chi tiết hơn dựa trên cân bằng carbon, nhằm phản ánh chính xác cường độ phát thải thực tế.
Từ thực tiễn triển khai, chuyên gia VNEEC đưa ra một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp thép:Thứ nhất, số hóa toàn bộ dữ liệu kiểm kê khí nhà kính. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu tập trung, đảm bảo khả năng truy xuất từ số liệu tổng hợp đến chứng từ gốc. Đây là nền tảng để phục vụ kiểm kê, thẩm định và ra quyết định quản trị phát thải theo thời gian thực.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên trách. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn phân tán nhân sự, thiếu tính liên tục trong đào tạo và triển khai. Điều này dẫn đến thiếu thống nhất trong dữ liệu và quy trình thực hiện.
Thứ ba, chuẩn hóa hệ số phát thải theo hướng phù hợp thực tiễn. Trong giai đoạn hiện nay, đa số doanh nghiệp vẫn sử dụng hệ số mặc định theo Quyết định 2626. Việc xây dựng hệ số riêng là cần thiết nhưng cần lộ trình dài hạn do chi phí cao.
Thứ tư, thực hiện tiền thẩm định báo cáo kiểm kê. Doanh nghiệp không nên dồn toàn bộ việc kiểm kê khí nhà kính và thẩm định vào sát thời điểm nộp báo cáo năm 2027, nhằm tránh rủi ro thiếu dữ liệu và không đạt yêu cầu thẩm định.
Theo chuyên gia, một điểm quan trọng trong Nghị định 119 là việc mở rộng tỷ lệ sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ hạn ngạch từ 10% lên tối đa 30%, tạo thêm dư địa linh hoạt cho doanh nghiệp. Ngoài ra, hạn ngạch phát thải còn được phép chuyển tiếp giữa các kỳ phân bổ đến hết năm 2030, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong chiến lược quản trị carbon.“Doanh nghiệp không nên nhìn kiểm kê khí nhà kính như một gánh nặng. Đây là công cụ quản trị mới và là cơ hội kinh doanh nếu biết tận dụng thị trường carbon”, ông Hải nhấn mạnh.
“Thay vì chỉ tuân thủ, doanh nghiệp cần tích hợp kiểm kê khí nhà kính vào chiến lược sản xuất – kinh doanh dài hạn, qua đó tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu giảm phát thải ngày càng khắt khe trên toàn cầu” ông Nguyễn Tiến Hải nhấn mạnh.