Ngày 24/10/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2800/QĐ-BCT kèm Phương án tạm thời điều phối, hỗ trợ vật liệu xây dựng thông thường giữa các tỉnh, thành phố phục vụ công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký. Phương án được áp dụng cho đến khi được điều chỉnh, thay thế hoặc có phương án theo quy định mới.
Phương án dựa trên kết quả rà soát nguồn vật liệu của 34 tỉnh, thành phố, nhằm bảo đảm nguồn cung đúng thời điểm, chất lượng, chi phí hợp lý giai đoạn 2026 - 2030. Trước mắt, trọng tâm là các dự án cao tốc tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và những dự án tại Cà Mau.
Phân công nguồn vật liệu xây dựng theo từng địa phương
Theo phương án, 34 tỉnh, thành phố được phân thành ba nhóm: 18 địa phương tự bảo đảm và có khả năng cung cấp cho nơi khác; 10 địa phương thiếu một số vật liệu nhưng có thể tự cân đối; 6 địa phương cần điều phối gồm Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ và Ninh Bình.
Việc phân nhóm phản ánh khả năng cân đối tổng thể. Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, An Giang có khả năng cung cấp đá xây dựng. Cần Thơ, Vĩnh Long cung cấp cát. Ninh Bình có thể cung cấp đá và đất san lấp, dù một số địa phương này vẫn thiếu loại vật liệu khác.
Phương án điều phối, hỗ trợ nguồn vật liệu xây dựng thông thường nhằm đáp ứng nhu cầu của các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Ảnh minh họa.
Hai hành lang điều phối gồm Đồng bằng sông Cửu Long - Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Phía Nam, đá từ An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai cung cấp cho Cà Mau, Cần Thơ. Cát từ Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp cung cấp cho Tây Ninh, Đồng Nai. Phía Bắc, nguồn đá, đất san lấp được điều phối cho Hà Nội, Hưng Yên.
Đối với Hà Nội, phương án phân công các địa phương cung cấp tổng cộng 272,25 triệu m3 đá xây dựng. Theo đó, Phú Thọ cung cấp 100 triệu m3. Ninh Bình và Thái Nguyên mỗi tỉnh 50 triệu m3. Thanh Hóa 30 triệu m3, Tuyên Quang 22 triệu m3 và Nghệ An 20,25 triệu m3. Bên cạnh đó, 244 triệu m3 đất san lấp được phân công từ Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Tại Hưng Yên, Ninh Bình được phân công cung cấp 9,5 triệu m3 đá xây dựng. Đối với cát san lấp, tỉnh Hưng Yên thực hiện rà soát, bổ sung quy hoạch và cấp mới các khu vực cát đã được đánh giá tiềm năng theo cơ chế đặc thù.
Đối với Tây Ninh, trước mắt, Vĩnh Long và Đồng Tháp mỗi tỉnh cung cấp 2 triệu m3 cát san lấp phục vụ các dự án giao thông. Tỉnh Tây Ninh ưu tiên sử dụng nguồn đất san lấp, cát sông tại chỗ và báo cáo Bộ Công Thương kết quả rà soát, cân đối trước ngày 30/11/2026.
Tại Cà Mau, phương án phân công các địa phương cung cấp 22,1 triệu m3 đá xây dựng và 20,7 triệu m3 cát san lấp phục vụ bốn dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư, gồm: đường bộ cao tốc Cà Mau - Cái Nước; đường bộ cao tốc Cái Nước - Đất Mũi; đường giao thông nối ra Cảng Hòn Khoai và Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai. TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai mỗi địa phương cung cấp 10,5 triệu m3 đá xây dựng; An Giang cung cấp 1,1 triệu m3 và có trách nhiệm xây dựng phương án cung cấp, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026. Đối với cát san lấp, Cần Thơ được phân công cung cấp 17,2 triệu m3, Đồng Tháp 2,3 triệu m3 và Vĩnh Long 1,2 triệu m3. Khối lượng nêu trên bao gồm cả phần đã được cấp phép hoặc đang cung cấp cho các dự án tại Cà Mau.
Đối với Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh được phân công cung cấp 2,5 triệu m3 đá xây dựng phục vụ Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1.
Tại Ninh Bình, UBND tỉnh có trách nhiệm xác định nhu cầu cát theo từng dự án trọng điểm, từng năm và nguồn đề xuất hỗ trợ, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026 để xem xét điều chỉnh, bổ sung phương án.
Bảo đảm tiến độ và quản lý chặt tài nguyên
Phương án ưu tiên dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm quốc gia, sau đó đến công trình cấp bách, phòng, chống thiên tai và các trường hợp luật định. Điều phối không phụ thuộc địa giới hành chính nhưng phải bảo đảm nhu cầu địa phương cung cấp. Phụ lục I tổng hợp mức phân công tối thiểu gồm 306,35 triệu m3 đá xây dựng, 24,7 triệu m3 cát và 257,3 triệu m3 đất san lấp cho giai đoạn 2026 - 2030, kể cả phần đã cấp phép hoặc đang cung ứng.
Nguồn huy động trước hết là các mỏ được cấp phép không qua đấu giá và khu vực được xác nhận thu hồi khoáng sản từ 100.000 m3 trở lên, với giấy phép, xác nhận còn hiệu lực. Nguồn đã cấp phép qua đấu giá và nguồn hợp pháp khác phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ thể có quyền. Khu vực chưa cấp phép chỉ xem xét khi các nguồn trước đó không đáp ứng; khuyến khích vật liệu thay thế, đất đá thải mỏ, cát biển theo quy định.
Mua bán vật liệu theo hợp đồng; giá do các bên thỏa thuận, thực hiện nghĩa vụ kê khai, niêm yết, công khai. Địa phương không được đặt thêm thủ tục, điều kiện, khoản thu hoặc cản trở cung ứng liên tỉnh trái quy định; đồng thời phải kiểm soát khai thác, vận chuyển, giá và sử dụng vật liệu đúng dự án.
Chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu gửi nhu cầu từng năm trước ngày 5/11/2026. Địa phương tiếp nhận lập danh mục mỏ, khối lượng, dự án, tuyến vận chuyển gửi Bộ Công Thương trước ngày 10/11. Địa phương cung cấp ưu tiên hồ sơ cấp mới, gia hạn, nâng công suất, điều chỉnh giấy phép; nếu không bảo đảm khối lượng, phải báo cáo nguyên nhân, đề xuất nguồn thay thế trong năm ngày làm việc kể từ khi xác định nguyên nhân.
Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải rà soát mỏ, xử lý vi phạm, thu hồi giấy phép không thực hiện đúng quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/10/2026. Bộ Công Thương giao Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam theo dõi, kiểm tra, đôn đốc. Đồng thời, đề xuất điều chỉnh và báo cáo cấp có thẩm quyền khi phát sinh vướng mắc.
Xem chi tiết văn bản tại đây.
Địa phương báo cáo kết quả trước ngày 20 hằng tháng đến hết năm 2026 và trước ngày 20 tháng cuối quý từ năm 2027. Bộ Công Thương triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số quốc gia về nguồn cung, hệ thống dự báo và hoàn thiện cơ chế điều phối vật liệu xây dựng thông thường.