Thứ sáu, 02/10/2026

Đa dạng động lực, nâng cao năng lực kinh tế biển Việt Nam

Tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh giải pháp đồng bộ từ phát triển hệ sinh thái du lịch, nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng an ninh.

Đa dạng động lực, nâng cao năng lực kinh tế biển Việt Nam

Ngày 2/10/2026, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao chủ trì tổ chức Diễn đàn Biển Việt Nam với chủ đề "Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh". Diễn đàn tập trung trao đổi các giải pháp thúc đẩy hợp tác, huy động nguồn lực quốc tế và nâng cao năng lực quản trị biển, qua đó góp phần hiện thực hóa định hướng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Mở rộng không gian phát triển du lịch biển

Phát triển kinh tế biển được xác định gắn với nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch biển là một trong những hướng có dư địa lớn. Tại Diễn đàn, từ góc độ phát triển du lịch, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong cho rằng dư địa phát triển du lịch biển Việt Nam còn rất lớn, trong bối cảnh các thị trường quốc tế đang tăng trưởng nhanh.

Theo Thứ trưởng, trong 8 tháng đầu năm, lượng khách du lịch đến từ Trung Quốc tăng mạnh; khách Nga và Ấn Độ cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao. Diễn biến này cho thấy nhu cầu và tiềm năng mở rộng thị trường khách quốc tế đối với du lịch Việt Nam, trong đó có du lịch biển.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, du lịch biển vẫn đối mặt với một số hạn chế về hạ tầng, liên kết vùng, sản phẩm có giá trị gia tăng cao và sức chịu tải môi trường. Đây là những vấn đề đặt ra yêu cầu về cách thức tổ chức không gian phát triển, cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực phục vụ của các điểm đến.

Thứ trưởng Hồ An Phong cho rằng Việt Nam cần chuyển từ phát triển các dự án đơn lẻ sang hình thành những hệ sinh thái điểm đến lớn, các trung tâm và cụm du lịch biển có khả năng trở thành cực tăng trưởng.

Định hướng này đặt vấn đề liên kết phát triển ở quy mô rộng hơn, thay vì tập trung vào từng dự án riêng lẻ. Việc hình thành các hệ sinh thái điểm đến, trung tâm và cụm du lịch biển được kỳ vọng tạo điều kiện để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng biển, đồng thời nâng cao giá trị của các sản phẩm du lịch.

Một trong những hướng được Thứ trưởng Hồ An Phong nhấn mạnh là phát triển du lịch tàu biển. Việt Nam hiện chưa có hệ thống cảng du lịch chuyên dùng đồng bộ, trong khi các cảng container không phù hợp để khai thác hiệu quả dòng khách tàu biển.

Tăng năng lực tự chủ, bảo đảm an ninh trên biển

Cùng với phát triển kinh tế biển, vấn đề an ninh, quốc phòng và năng lực tự chủ trên biển cũng được các đại biểu tại Diễn đàn đề cập. Chuẩn đô đốc Phạm Minh Tuấn, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân (Bộ Quốc phòng), nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế.

Theo ông, mọi hoạt động đầu tư, khai thác và sử dụng không gian biển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể bảo vệ lâu dài của quốc gia, đồng thời không làm giảm năng lực phòng thủ.

Từ yêu cầu đó, ông Phạm Minh Tuấn đề xuất đẩy mạnh xây dựng hạ tầng dữ liệu quan trắc và kiểm định, nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ quản lý tài nguyên, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và bảo vệ môi trường.

Cùng với phát triển hạ tầng dữ liệu và nghiên cứu khoa học công nghệ, ông đề xuất phát triển công nghiệp đóng tàu, công nghiệp hàng hải và các dịch vụ kỹ thuật biển theo hướng tự chủ, hiệu quả, bền vững.

Bên cạnh đó, Chuẩn đô đốc Phạm Minh Tuấn nhấn mạnh yêu cầu lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm an sinh và hạ tầng thiết yếu cho cộng đồng ven biển, hải đảo.

Theo ông, hợp tác quốc tế cũng cần được tăng cường trong các lĩnh vực an ninh, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đào tạo nhân lực.

Hiểu luật quốc tế để phát triển kinh tế biển

Trao đổi với các phóng viên bên lề Diễn đàn, trong đó có Báo Công Thương, TS. Nguyễn Hùng Sơn, Giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu pháp lý trong quá trình Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Theo TS. Nguyễn Hùng Sơn, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam có tầm nhìn rất rộng và bao quát. Quá trình này đòi hỏi sự đóng góp của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; sự tham gia của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương; sự tham gia của người dân cũng như sự hợp tác quốc tế.

"Khi tất cả các lực lượng đó cùng hợp tác vươn ra biển, đặc biệt là các vùng biển xa và vùng biển quốc tế - điều bắt buộc là phải hiểu rõ luật pháp quốc tế, nhất là Luật Biển quốc tế, cùng các chuẩn mực và xu thế quốc tế về biển", TS. Nguyễn Hùng Sơn cho biết.

Giám đốc Học viện Ngoại giao thông tin, với tư cách là cơ quan nghiên cứu và tham mưu, Học viện có nhiệm vụ đóng góp nhằm hỗ trợ các lực lượng đang hướng ra biển. Học viện giúp các bên nắm rõ những quy tắc, quy định pháp lý quốc tế sẽ chi phối hoạt động của mình; nhận biết những nguyên tắc cần tuân thủ cũng như các bài toán pháp lý đặt ra cho từng lĩnh vực, từng ngành nghề.

Từ đó, các cơ quan, doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phù hợp với xu thế và luật pháp quốc tế, giúp việc hợp tác và thu hút nguồn lực quốc tế đạt kết quả cao nhất.

Việc đưa các định hướng này vào những chương trình, dự án và cơ chế hợp tác cụ thể được các đại biểu nhấn mạnh tại phiên khai mạc. Qua đó, biển được đặt trong một không gian phát triển gắn với hợp tác quốc tế, đồng thời phục vụ yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình và nâng cao vai trò của Việt Nam trong quản trị biển và đại dương.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.