Chủ nhật, 11/10/2026

Công nghiệp văn hóa: 'Đánh thức' nguồn lực, gia tăng giá trị cho nền kinh tế

Công nghiệp văn hóa được định hướng phát triển gắn với kinh tế sáng tạo, với mục tiêu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và khoảng 9% GDP vào năm 2045.

Công nghiệp văn hóa: 'Đánh thức' nguồn lực, gia tăng giá trị cho nền kinh tế

Từ tài nguyên văn hóa đến lợi thế cạnh tranh

Công nghiệp văn hóa được hiểu là ngành sản xuất, phân phối các sản phẩm và dịch vụ dựa trên việc khai thác tài sản trí tuệ và sức sáng tạo để tạo ra giá trị kinh tế. Sách, phim, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang và phần mềm giải trí là những sản phẩm tiêu biểu của lĩnh vực này. Điểm cốt lõi là biến ý tưởng sáng tạo và di sản văn hóa thành sản phẩm có khả năng thương mại hóa trên thị trường, đồng thời tạo ra giá trị văn hóa, xã hội và kinh tế.

Theo mục tiêu đề ra của Nghị quyết số 80-NQ/TW, đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột phát triển bền vững, đóng góp khoảng 9% GDP.

Trên thế giới, công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh, được nhiều quốc gia xác định là động lực tăng trưởng mới, nền tảng của kinh tế sáng tạo và công cụ gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Sự phát triển của các ngành nội dung số, điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử và truyền thông đa nền tảng cho thấy giá trị kinh tế ngày càng gắn với ý tưởng, dữ liệu, thương hiệu, bản quyền và khả năng sáng tạo, thay vì chủ yếu dựa vào tài nguyên vật chất.

Tại Mỹ, điện ảnh Hollywood, âm nhạc, dịch vụ phát trực tuyến, trò chơi điện tử và truyền thông số hình thành hệ sinh thái rộng lớn. Các doanh nghiệp như Disney, Netflix và Warner Bros, Discovery không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần lan tỏa văn hóa Mỹ và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Hàn Quốc là trường hợp nổi bật về phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chiến lược quốc gia. Theo đó, K-pop, phim truyền hình, điện ảnh, trò chơi điện tử, thời trang, mỹ phẩm và nội dung số đã góp phần tạo nên làn sóng Hallyu trên toàn cầu.

Còn tại Nhật Bản, các thương hiệu Sony, Studio Ghibli, anime và manga phát triển thành những sản phẩm giải trí có ảnh hưởng quốc tế, đồng thời trở thành biểu tượng văn hóa và công cụ ngoại giao mềm. Trong khi đó, Trung Quốc đầu tư lớn vào công nghiệp giải trí, nền tảng số, điện ảnh, phát trực tiếp, trò chơi điện tử, trí tuệ nhân tạo và văn hóa số, với những hệ sinh thái nội dung có sức ảnh hưởng rộng.

Theo PGS.TS Huỳnh Văn Tới, Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh, xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa trên thế giới hiện nay gắn chặt với chuyển đổi số văn hóa, kinh tế sáng tạo và xây dựng sức mạnh mềm quốc gia. Quá trình này phản ánh sự chuyển dịch từ kinh tế công nghiệp truyền thống sang kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo và kinh tế nội dung số, trong đó con người sáng tạo là nguồn lực quan trọng nhất.

Đối với Việt Nam, tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa trước hết nằm ở kho tàng lịch sử, văn học, truyền thuyết, di sản, nghệ thuật truyền thống và đời sống văn hóa đa dạng. Những nguồn lực này có thể trở thành chất liệu cho điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa và nhiều loại hình sáng tạo khác.

Ghi nhận từ thực tế cho thấy công nghiệp văn hóa đã có những biểu hiện rõ nét trong đời sống xã hội. Các chương trình hòa nhạc quy mô lớn thu hút hàng chục nghìn khán giả, kết hợp những khúc ca cách mạng với giai điệu hiện đại, đã tạo nên sự kết nối giữa các thế hệ. Những sự kiện này không chỉ là hoạt động nghệ thuật mà còn thể hiện khả năng lan tỏa giá trị văn hóa và tinh thần cộng đồng.

Tại các địa phương, lễ hội truyền thống được tổ chức ngày càng bài bản, vừa góp phần gìn giữ di sản vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa. Hát xoan Phú Thọ, quan họ Bắc Ninh, nhã nhạc cung đình Huế và đờn ca tài tử Nam Bộ không chỉ là những di sản được UNESCO ghi danh mà còn gắn với đời sống tinh thần, bản sắc và sự gắn kết cộng đồng. Việc phát triển du lịch gắn với di sản cũng mở ra cơ hội tạo sinh kế cho người dân, qua đó cho thấy bảo tồn văn hóa có thể đồng hành với phát triển kinh tế. Điện ảnh, thời trang, ẩm thực và thủ công mỹ nghệ cũng có khả năng đưa những giá trị văn hóa Việt Nam đến với công chúng trong nước và quốc tế.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, điểm đáng chú ý là công nghiệp văn hóa tạo không gian để nhiều chủ thể cùng tham gia, từ nghệ nhân làng nghề, nghệ sĩ trẻ trên nền tảng trực tuyến đến nhà làm phim, nhà thiết kế, kiến trúc sư và doanh nghiệp nội dung số. Người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng và có thể tham gia vào quá trình lan tỏa văn hóa. Đây cũng là cơ sở để phát triển công nghiệp văn hóa gắn với bảo tồn bản sắc, củng cố sự gắn kết cộng đồng và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam nằm ở kho tàng lịch sử, văn học, truyền thuyết, di sản, nghệ thuật truyền thống.

Hoàn thiện thể chế, phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Phát triển công nghiệp văn hóa đã được đặt ra trong các chủ trương của Đảng từ nhiều năm qua. Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã nêu rõ: phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; khai thác và phát huy tiềm năng, giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, đồng thời khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam định hướng này được thể hiện rõ hơn thông qua yêu cầu đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa và nghệ thuật sáng tạo. Đáng chú ý, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP; đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột phát triển bền vững, đóng góp khoảng 9% GDP.

PGS.TS Huỳnh Văn Tới khẳng định, những mục tiêu trên cho thấy yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động sang phát triển kinh tế văn hóa dựa trên sáng tạo, nhưng vẫn bảo đảm nhiệm vụ xây dựng con người, phát huy bản sắc dân tộc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Bên cạnh đó, để đạt mục tiêu đề ra của Nghị quyết số 80-NQ/TW, cũng như phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, Việt Nam không nên đầu tư dàn trải vào tất cả các lĩnh vực cùng một lúc, mà cần lựa chọn những ngành vừa có lợi thế về chất liệu văn hóa, vừa có khả năng ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và xuất khẩu tài sản trí tuệ.

Trong đó, điện ảnh, hoạt hình và nội dung nghe nhìn là nhóm lĩnh vực có tiềm năng từ kho tàng lịch sử, văn học, truyền thuyết, di sản và đời sống xã hội Việt Nam. Những chất liệu này có thể được phát triển thành câu chuyện mang bản sắc dân tộc nhưng có khả năng tiếp cận công chúng toàn cầu. Ngoài ra, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn cũng mở ra cơ hội phát triển hệ sinh thái chuyên nghiệp. Để phát huy tiềm năng, lĩnh vực này cần được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, công nghệ, bản quyền, quản trị và đào tạo nhân lực, qua đó mở rộng khả năng thu hút khách du lịch và tạo việc làm.

Thiết kế, thời trang, quảng cáo, kiến trúc, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, xuất bản và các sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản cũng cần được quan tâm. Những lĩnh vực này có khả năng chuyển hóa hoa văn, chất liệu, kỹ năng truyền thống và bản sắc địa phương thành sản phẩm có giá trị gia tăng. "Tuy nhiên, việc khai thác di sản phải tránh xu hướng thương mại hóa dễ dãi; giá trị kinh tế cần song hành với bảo tồn, quyền lợi cộng đồng và sự tôn trọng tính xác thực của văn hóa", theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn.

Bên cạnh lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, theo các chuyên gia, việc hoàn thiện thể chế là điều kiện quan trọng để các nguồn lực sáng tạo được huy động và vận hành hiệu quả. Những nội dung cần được quan tâm gồm cơ chế đặc thù cho công nghiệp văn hóa, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo và khởi nghiệp, nguồn lực tài chính cho nghệ thuật, hợp tác công tư, phát triển thị trường văn hóa số, xuất khẩu sản phẩm văn hóa và quy hoạch các cụm, khu công nghiệp sáng tạo.

Đồng thời, cần xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa, phát triển mô hình đại học sáng tạo, đào tạo liên ngành và hỗ trợ tài năng trẻ. Đặc biệt, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số ngày càng tác động tới hoạt động sáng tạo, do đó, việc hình thành đội ngũ có năng lực công nghệ, kỹ năng nghề sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm cũng như vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai xây dựng và hoàn thiện dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Tinh thần xuyên suốt của dự án luật là xây dựng một hành lang pháp lý giúp kết nối hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa.

Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho hay, mục tiêu của Ban soạn thảo dự thảo dự án Luật là giúp các sản phẩm sáng tạo của Việt Nam được nhìn nhận, định giá chuẩn xác đúng để tạo ra doanh thu, góp phần khơi thông nguồn lực đầu tư văn hóa. Đặc biệt, xác định doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trong đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa, Nhà nước sẽ đóng vai trò đầu mối hỗ trợ. Luật sẽ đưa ra các cơ chế thành lập các cụm, khu, tổ hợp sáng tạo công nghiệp văn hóa nhằm thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong quý IV năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng cho sự phát triển của ngành. Trọng tâm là phối hợp với các Ủy ban của Quốc hội rà soát, chỉnh lý, tiếp thu, hoàn thiện các Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Du lịch, Luật Thể dục, thể thao, Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí; đồng thời tiếp tục hoàn thiện dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa để báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội xem xét.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, công nghiệp văn hóa được quan tâm phát triển, chúng ta không chỉ có thêm một ngành kinh tế mũi nhọn, mà còn xây dựng được một hệ sinh thái tinh thần vững chắc.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.