Thông tư quy định việc tạo lập, quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương phục vụ công tác quản lý nhà nước về công nghiệp thực phẩm, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, truy xuất nguồn gốc thực phẩm và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương.
8 nhóm dữ liệu
Theo Thông tư, Cơ sở dữ liệu thực phẩm gồm 8 nhóm dữ liệu, gồm: Dữ liệu về cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; sản phẩm thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và hồ sơ công bố sản phẩm; cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng và kiểm nghiệm chứng nhận.
Cơ sở dữ liệu cũng tập hợp kết quả kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm hành chính, cảnh báo và thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn; dữ liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm hàng hóa, nhãn hàng hóa và quảng cáo; dữ liệu truy xuất nguồn gốc thực phẩm cùng dữ liệu báo cáo, thống kê và tài liệu khác phục vụ quản lý nhà nước.
Dữ liệu được hình thành từ thông tin do cơ quan nhà nước tạo lập hoặc được giao quản lý, dữ liệu do tổ chức, cá nhân cung cấp, cập nhật và các hồ sơ giấy được số hóa để đưa vào hệ thống; phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, thống nhất và có khả năng kiểm chứng, truy nguyên đến nguồn hình thành.
Doanh nghiệp phải lưu hồ sơ để truy xuất
Thông tư dành riêng một chương quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Theo đó, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lưu trữ hồ sơ, tài liệu liên quan trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhằm phục vụ truy xuất khi cần thiết.
Thông tin phục vụ truy xuất gồm tên, địa chỉ, thông tin liên hệ và mã số doanh nghiệp của cơ sở sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong trường hợp thuộc diện phải có cùng các chứng nhận liên quan đến hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.
Đối với từng sản phẩm, cơ sở phải lưu các thông tin về tên, hình ảnh, thương hiệu, số seri nếu có, quy cách đóng gói, chất liệu bao bì, thành phần, thời hạn sử dụng cùng tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng và các thông tin liên quan đến lô sản xuất.
Cơ sở nhập khẩu phải lưu thêm thông tin về đơn vị nhập khẩu, kho lưu giữ, nhà sản xuất nước ngoài và thông tin gắn với lô hàng nhập khẩu. Với thực phẩm xuất khẩu, việc truy xuất phải đáp ứng quy định của nước nhập khẩu.
Khi phát hiện sản phẩm có dấu hiệu không bảo đảm an toàn hoặc cần truy xuất, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải xác định lô sản phẩm, rà soát hồ sơ để tìm nguyên nhân, liên hệ với đơn vị cung cấp nguyên liệu, bao bì và thông báo tới các đơn vị trong chuỗi phân phối để thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định.
Phân rõ trách nhiệm quản lý và cập nhật dữ liệu
Thông tư giao Cục Công nghiệp chủ trì phối hợp xác định yêu cầu nghiệp vụ đối với Cơ sở dữ liệu thực phẩm. Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số thực hiện nhiệm vụ về kiến trúc kỹ thuật, vận hành, an toàn, an ninh hệ thống và kết nối dữ liệu. Các đơn vị thuộc Bộ Công Thương có trách nhiệm tạo lập, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu theo chức năng được giao.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm cập nhật dữ liệu thuộc phạm vi quản lý địa phương.
Đối với doanh nghiệp, Thông tư quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tạo lập, lưu trữ và cập nhật đầy đủ thông tin về sản phẩm, nguồn gốc, nguyên liệu, quy trình sản xuất. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính kịp thời, hợp pháp, trung thực và chính xác của dữ liệu do mình cung cấp.
Thông tư số 63/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026 và thay thế Thông tư số 11/2026/TT-BCT ngày 27/2/2026 quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.
Xem toàn văn Thông tư số 63/2026/TT-BCT tại đây.