Thứ hai, 13/07/2026

Biến phế liệu thành tài nguyên: Gỡ điểm nghẽn cho ngành giấy tái chế

Mỗi năm, có hàng triệu tấn giấy phế liệu được tái chế. Tuy nhiên, để kinh tế tuần hoàn ngành giấy phát triển đúng tiềm năng, cần sớm tháo gỡ các điểm nghẽn phát sinh.

Biến phế liệu thành tài nguyên: Gỡ điểm nghẽn cho ngành giấy tái chế

Nguồn nguyên liệu quan trọng của kinh tế tuần hoàn

Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, năm 2025, sản lượng giấy trong nước đạt khoảng 6,34 triệu tấn, trong khi tổng tiêu dùng giấy ước đạt 7,77 triệu tấn, tăng 10,8% so với năm trước. Giấy bao bì hiện chiếm hơn 80% tổng sản lượng toàn ngành.

Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, logistics, xuất khẩu và xu hướng thay thế bao bì nhựa, nhu cầu giấy bao bì được dự báo tiếp tục tăng trong những năm tới.

Điểm đặc biệt của ngành giấy là khả năng tái sử dụng nguyên liệu rất cao. Mỗi ngày, một lượng lớn giấy đã qua sử dụng từ hộ gia đình, cửa hàng, siêu thị, trường học, văn phòng, kho vận và khu công nghiệp được thu gom, phân loại, ép kiện rồi đưa về các nhà máy tái chế.

Hiện lượng giấy thu hồi trong nước ước đạt trên 3,5 triệu tấn mỗi năm, tương đương giá trị hàng chục nghìn tỷ đồng. Đây không chỉ là nguồn nguyên liệu sản xuất mà còn góp phần giảm chất thải chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tạo việc làm cho lực lượng lao động thu gom trong xã hội.

Tuy nhiên, khác với nhiều ngành công nghiệp có nguồn cung tập trung, chuỗi nguyên liệu giấy tái chế được hình thành từ một mạng lưới rất phân tán, gồm người thu gom nhỏ lẻ, các điểm tập kết, trạm ép kiện, hộ kinh doanh, doanh nghiệp thương mại và cuối cùng mới đến nhà máy sản xuất.

Trong đó, nguồn cung từ nhóm cá nhân thu gom nhỏ lẻ hiện chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lượng nguyên liệu đầu vào. Đây là mắt xích quan trọng giúp duy trì dòng nguyên liệu liên tục cho các nhà máy giấy tái chế. Tuy nhiên, phần lớn người thu gom có quy mô nhỏ, chưa đăng ký kinh doanh, chưa quen sử dụng hóa đơn điện tử, chưa có tài khoản phục vụ hoạt động kinh doanh và vẫn giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt.

Vì vậy, mặc dù hàng hóa, việc giao nhận và thanh toán đều có thật, nguyên liệu được cân, nhập kho và đưa vào sản xuất, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ, chứng minh chi phí và giải trình khi quyết toán thuế.

Tại buổi làm việc với Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, đại diện Công ty Cổ phần HHP GLOBAL cho rằng, vướng mắc lớn của doanh nghiệp tái chế giấy nằm ngay ở khâu thu mua nguyên liệu. Để giấy phế liệu đến được các trạm thu mua của doanh nghiệp, trước đó đã phát sinh hàng trăm, thậm chí hàng nghìn giao dịch nhỏ trong chuỗi thu gom. Việc yêu cầu hoàn thiện đầy đủ thông tin người bán, hóa đơn, chứng từ và phương thức thanh toán cho từng giao dịch tạo ra khối lượng công việc rất lớn, chưa phù hợp với thực tế vận hành.

Theo quy định hiện hành, nghĩa vụ thuế của hộ và cá nhân kinh doanh được xác định căn cứ vào doanh thu, lĩnh vực hoạt động và phương pháp tính thuế. Đối với hoạt động phân phối, cung cấp hàng hóa thuộc diện tính thuế trực tiếp trên doanh thu, có thể phát sinh thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ tương ứng. Khung quản lý thuế và hóa đơn đối với hộ, cá nhân kinh doanh tiếp tục được hoàn thiện theo Luật Quản lý thuế năm 2025 và các nghị định hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Trong thực tế, các khoản thuế và chi phí tuân thủ thường được người bán tính vào giá giao dịch, làm tăng giá nguyên liệu thu gom trong nước. Trường hợp người bán nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp và sử dụng hóa đơn bán hàng, doanh nghiệp mua nguyên liệu hiện không được tách riêng phần thuế giá trị gia tăng để kê khai khấu trừ, mà phải ghi nhận toàn bộ giá thanh toán vào giá trị nguyên liệu hoặc chi phí sản xuất.

Ngược lại, đối với giấy phế liệu nhập khẩu, doanh nghiệp có chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng tại khâu nhập khẩu và có thể kê khai khấu trừ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Luật Thuế giá trị gia tăng. Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và Nghị định số 181/2025/NĐ-CP hiện là những căn cứ chính điều chỉnh vấn đề này.

Sự khác biệt về cơ chế khấu trừ thuế khiến nguyên liệu tái chế trong nước có nguy cơ chịu bất lợi so với nguồn nguyên liệu nhập khẩu, dù việc tăng sử dụng giấy thu hồi nội địa phù hợp hơn với mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.

Đề xuất cơ chế kê khai, nộp thuế tập trung tại nguồn

Một trong những giải pháp được doanh nghiệp đề xuất là xây dựng cơ chế thuế đơn giản, tập trung tại nguồn đối với hoạt động thu mua giấy phế liệu từ cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Theo đó, doanh nghiệp sản xuất hoặc đơn vị thu mua đủ điều kiện được phép lập chứng từ thu mua điện tử trên cơ sở thông tin định danh người bán, phiếu cân, phiếu giao nhận, phiếu nhập kho, chứng từ thanh toán và dữ liệu hàng hóa thực tế.

Trên cơ sở hồ sơ này, doanh nghiệp được kê khai và nộp thay nghĩa vụ thuế của người bán theo tỷ lệ phù hợp với từng nhóm đối tượng, ngưỡng doanh thu và phương pháp tính thuế.

Đồng thời, kiến nghị nghiên cứu cơ chế cho phép doanh nghiệp mua hàng được khấu trừ phần thuế giá trị gia tăng đã thực nộp, kể cả khi đầu vào là hóa đơn bán hàng theo phương pháp trực tiếp hoặc chứng từ thu mua điện tử.

Cơ chế kê khai, nộp thay và khấu trừ thuế tại nguồn có thể mang lại lợi ích cho cả ba bên. Doanh nghiệp có căn cứ rõ ràng để hạch toán chi phí; cơ quan thuế quản lý được dòng hàng, dòng tiền và nghĩa vụ thuế thông qua các đầu mối có hệ thống kế toán; người thu gom nhỏ lẻ không phải tự thực hiện những thủ tục vượt quá khả năng tuân thủ.

Ngoài nguyên liệu thu gom trong nước, ngành giấy hiện vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn giấy phế liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Theo quy định về bảo vệ môi trường, doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất phải thực hiện ký quỹ bảo vệ môi trường.

Đối với giấy phế liệu, mức ký quỹ được xác định theo khối lượng và giá trị lô hàng, với các tỷ lệ 15%, 18% hoặc 20%. Quy định này được đặt ra tại Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và tiếp tục được áp dụng trong khuôn khổ pháp luật môi trường sau khi nghị định được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Do đó, để doanh nghiệp có thêm nguồn lực mở rộng đầu tư, quay vòng vốn sản xuất, ứng phó với biến động thị trường nguyên liệu, doanh nghiệp kiến nghị xem xét giảm tỷ lệ ký quỹ, rút ngắn thời gian hoàn trả và áp dụng cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro.

Đại diện Công ty Cổ phần Giấy Miza nhận định, chính sách cần phản ánh đúng hơn mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp. Những đơn vị có lịch sử tuân thủ tốt, đầu tư đầy đủ vào hệ thống bảo vệ môi trường và không phát sinh vi phạm cần được áp dụng cơ chế thuận lợi hơn, thay vì chịu cùng một mức ký quỹ với doanh nghiệp có nguy cơ vi phạm cao.

Theo hướng này, cơ quan quản lý có thể xây dựng hệ thống phân loại doanh nghiệp. Đơn vị tuân thủ tốt trong nhiều năm được giảm tỷ lệ ký quỹ hoặc áp dụng bảo lãnh ngân hàng; doanh nghiệp mới hoặc có vi phạm vẫn áp dụng mức ký quỹ cao và chế tài nghiêm khắc. Cơ chế quản lý theo rủi ro vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa giải phóng nguồn vốn cho những doanh nghiệp hoạt động minh bạch và có trách nhiệm.

Ngành giấy là một ví dụ rõ nét của kinh tế tuần hoàn. Mỗi tấn giấy phế liệu được thu hồi và tái chế không chỉ giúp giảm lượng chất thải phải chôn lấp, mà còn tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, tạo việc làm và giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Do đó, việc hoàn thiện chính sách sẽ tạo động lực để ngành giấy tiếp tục biến phế liệu thành tài nguyên, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam.

Từ những thùng carton, giấy văn phòng và bao bì đã qua sử dụng, hàng triệu tấn giấy phế liệu đang được thu gom, phân loại và đưa trở lại sản xuất. Việc sớm gỡ các vướng mắc sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế tuần hoàn của ngành giấy.
TheoBáo Công Thương

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.